- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn chị Hoàng Hồng N. Sửa bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒ A ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2019/DS-PT Ngày: 18 -4-2019 “V/v: Tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒ A Á N NHÂN DÂN TỈNH QUẢ NG NINH
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tò a: Bà Phạm Thị Hương Giang
Cá c thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Vương và ông Ngô Văn Thắng
-Thư ký phiên toà: Ông Bùi Mạnh Trung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Công Đông - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 4 năm 2019, tại Hội trường xét xử - Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 01/TLPT-DS ngày 07 tháng 01 năm 2019 về việc: “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 03/2019/DS-ST ngày 20/11/2018 của Toà án nhân dân huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 12/2019/QĐ-PT ngày 06 tháng 3 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2019/QĐ-PT ngày 29/3/2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Hồng N; Sinh năm 1980; Địa chỉ: Tổ 6, khu 1, thị trấn T, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.
2. Bị đơn:
- Chị Hoàng Thị Mai N1; Sinh năm 1979; Địa chỉ: Thôn An Biên 2, xã Lê Lợi, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt không có lí do.
- Chị Đặng Thị H; Sinh năm 1970; Địa chỉ: Tổ 5, khu 3, thị trấn T, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.
3. Người kháng cáo: Nguyên đơn chị Hoàng Hồng N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu liên quan, nguyên đơn chị Hoàng Hồng N có lời khai:
Vào hồi 07 giờ 30 phút, ngày 19 tháng 10 năm 2017, chị Hoàng Hồng N cùng bạn vừa ngồi vào bàn ăn, chưa kịp gọi đồ ăn sáng tại quán miến lươn thuộc khu vực bến xe thị trấn T, huyện Hoành Bồ thì thấy chị Đặng Thị H và chị Hoàng Thị Mai N1 đi thẳng đến bàn ăn nơi chị N ngồi cùng bạn. Khi đến nơi chị H nói “Con N kia có trả tiền cho tao không?”. Chị N có nói: “Tôi không vay tiền chị, nếu chị có căn cứ, chị có thể kiện tôi ra toà, chứ không thể vu khống tôi được”. Sau đó chị H liên tục chửi bới và xúc phạm chị N. Chị N ngồi yên. Chị N1 là người đi cùng chị H đến gần chị N và chửi chị N “Tao đánh chết mày bây giờ”. Chị N nói: “Tôi và chị không liên quan gì đến nhau”. Chị N nói dứt lời thì chị N1 lao vào đánh vào đầu, vào người chị N. Chị H cũng lao vào đánh chị N. Chị N1 còn giằng tay trái của chị N lấy răng cắn nát 01 ngón tay, máu chảy ra rất nhiều, được mọi người can ngăn thì chị H và chị N1 mới dừng lại. Chị N được mọi người đưa vào Bệnh viện Hoành Bồ cấp cứu, điều trị vết thương từ ngày 19/10/2017 đến ngày 31/10/2017. Hậu quả chị N bị thương tích ở tay, đầu, trày xước khắp người, kết quả giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể do các thương tích gây ra là 08%. Chị N khởi kiện vụ án dân sự yêu cầu Toà án giải quyết buộc chị H và chị N1 phải bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm cho chị N, với tổng số tiền là: 84.081.000đ (Tám mươi tư triệu không trăm tám mươi mốt nghìn đồng), gồm các khoản tiền sau:
-Viện phí: 4.181.000đ
-Thuốc chữa trị mua ngoài: 3.000.000đ
-Tiền chi phí giám định thương tích: 3.000.000đ
-Tiền phương tiện đi giám định: 1.000.000đ
-Tiền thu nhập bị mất 60 ngày x 500.000đ/ngày = 30.000.000đ
-Tiền người chăm sóc: 300.000đ/ngày x 13 ngày = 3.900.000đ
-Tiền tổn thất về tinh thần 30 tháng lương cơ sở = 39.000.000đ
Bị đơn chị Hoàng Thị Mai N1 có lời khai:
Chị N1 thừa nhận: Vào ngày 19/10/2017, chị N1 có gây thương tích cho chị N và những vết thương trên người chị N là do hai người dùng tay cào cấu nhau. Chị N đã dùng tay giật tóc, cào cấu chị N1 nên chị N1 dùng răng cắn vào ngón tay chị N mục đích để chị N buông tay ra. Bản thân chị N1 cũng bị thương tích, nhưng tự điều trị ở nhà, vì vậy chị không đồng ý yêu cầu bồi thường của chị N mà chỉ đồng ý hỗ trợ cho chị N khoản tiền viện phí. Sự việc chị N1 gây thương tích cho chị N không liên quan đến chị H, vì chị H không bảo chị đánh chị N và chị H cũng không tham gia đánh chị N.
Bị đơn chị Đặng Thị H có lời khai:
Ngày 19/10/2017, chị H và chị N1 đi ăn sáng cùng nhau có gặp chị N. Chị H có hỏi chị N: N vay tiền đến bao giờ trả. Chị N cãi không vay. Chị H thấy chị N1 và chị N cãi nhau và xông vào cào nhau. Chị H và chị H1 vào can ra. Chị H không tham gia và cũng không bảo chị N1 đánh chị N.
Người làm chứng chị Trần Thuý H1 có lời khai:
Chị H1 xác nhận thương tích của chị N vào sáng ngày 19/10/2017, tại quán Miến lươn, khu vực bến xe, thị trấn T, huyện Hoành Bồ là do chị N1 gây ra. Vì khi vào quán ăn, tay chị N vẫn bình thường, sau khi chị N1 và chị N xô sát thì thấy tay chị N bị tượt móng, chảy máu. Khi sự việc diễn ra, chị H có đi về hướng chị N và chị N1 đang xô sát, nhưng do chị H1 ngăn lại, nên chị H chưa động được đến người chị N. Chị H1 không biết chị H đi về hướng đó làm gì, can hay đánh chị N. Chị H1 không nghe thấy chị H bảo chị N1 đánh chị N.
Với nội dung trên, Bản án dân sự sơ thẩm số: 03/2019/DS-ST ngày 20/11/2018 của Toà án nhân dân huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh đã căn cứ vào Khoản 1 Điều 584, các Điều 585, 590 của Bộ luật dân sự; Khoản 1 điều 147, khoản 1 điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 điều 6, điểm d khoản 1 điều 12, khoản 4 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1.Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Hồng N. Buộc chị Hoàng Thị Mai N1 phải bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm cho chị Hoàng Hồng N, tổng số tiền là 25.940.000đ(Hai mươi lăm triệu chín trăm bốn mươi nghìn đồng).
2. Bác yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Hồng N đối với chị Đặng Thị H, về việc chị Đặng Thị H phải liên đới cùng chị Hoàng Thị Mai N1 bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm cho chị Hoàng Hồng N.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn quyết định về lãi suất, quyền thi hành án, án phí dân sự đối với các bên đương sự và báo quyền kháng cáo cho các đương sự theo luật định.
Ngày 05/12/2018, nguyên đơn chị Hoàng Hồng N kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại số tiền bồi thường tiền công lao động bị mất, tiền công cho người chăm sóc và khoản tiền tổn thất tinh thần.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và những lời khai đã trình bày tại tòa sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Về tố tụng: Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa và hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, các đương sự chấp hành đúng pháp luật. Về nội dung: Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm về phần bồi thường ngày công lao động tăng thêm từ 15 đến 30 ngày và tăng tiền bồi thường tổn thấy tinh thần lên 6 đến 7 lần mức lương cơ sở.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Hoành Bồ đã xác định đúng quan hệ tranh chấp và thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật. Kháng cáo của nguyên đơn làm trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Xét yêu cầu kháng cáo của chị Hoàng Hồng N thấy:
Những thương tích trên cơ thể chị N do xô xát xảy ra vào khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 19/10/2017 tại quán ăn miến lươn, ở khu vực bến xe thị trấn T, huyện Hoành Bồ là do chị N1 gây ra nên buộc chị N1 phải bồi thường thiệt hại cho chị N. Chị N1 gây thương tích cho chị N với tỉ lệ tổn thương cơ thể là 08% và chị N phải điều trị vết thương tại Trung tâm y tế huyện Hoành Bồ từ ngày 19/10/2017 đến ngày 30/10/2017 thì ra viện. Các chị không thỏa thuận được với nhau về mức bồi thường nên căn cứ các qui định pháp luật để xem xét về mức bồi thường.
* Đối với thu nhập thực tế bị mất:
Chị N khai chị làm nghề sơn sửa móng tay, móng chân và nối mi, thu nhập bình quân hàng tháng là 15.000.000 đồng nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh mức thu nhập. Chị cho rằng ngón tay cái của bàn tay trái là rất quan trọng, nay chị bị chị N1 cắn nát ngón tay nên chị đã phải nằm viện và nghỉ một khoảng thời gian sau khi ra viện để hồi phục, tất cả là 60 ngày. Tuy nhiên, theo lời khai của chị Lê Thị Hồng và chị Nguyễn Thị Huệ tại “Giấy xác nhận” có thể hiện “Chị N có đóng cửa quán một vài ngày sau đó thấy chị N mở quán bình thường”, ngoài ra chị N cũng thừa nhận là thuận tay phải. Nên căn cứ vào mức độ thương tích, số ngày nằm viện và tình trạng bệnh lúc ra viện để tính thu nhập thực tế bị mất là 40 ngày công là phù hợp và tính thu nhập của chị N theo mức lao động phổ thông có đào tạo trên địa bàn huyện Hoành Bồ là 300.000 đồng/ ngày công. Như vậy, chấp nhận một phần kháng cáo đối với phần thu nhập thức tế bị mất của chị N.
Như vậy, số tiền thu nhập thực tế bị mất, chị N1 phải bồi thường cho chị N là: 300.000 đồng/ngày x 40 ngày = 12.000.000 đồng.
* Đối với chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị:
Xét thấy người chăm sóc chị N là bà Nguyễn Thị H2. Bà H2 sinh năm 1948 (đã 70 tuổi), là người già không còn trong độ tuổi lao động, không có thu nhập. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm vẫn xem xét việc bà H2 tuy cao tuổi, không có thu nhập nhưng thực tế vẫn phải bỏ công sức ra chăm sóc chị N vì vậy buộc chị N1 phải bồi thường tiền công cho người chăm sóc là 200.000 đồng/ngày là phù hợp. Chị N nằm viện trong thời gian 12 ngày nên buộc chị N1 phải bồi thường cho chị N tiền công cho người chăm sóc là: 200.000đ đồng/ngày x 12 ngày = 2.400.000 đồng là có căn cứ. Do đó, kháng cáo này của chị N là không có căn cứ chấp nhận.
* Đối với khoản tiền bù đắp về tổn thất tinh thần:
Theo khoản 2 điều 590 của Bộ luật dân sự, nếu người bị thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm được bồi thưởng tổn thất về tinh thần tối đa không quá 50 lần mức lương cơ sở. Xem xét tỉ lệ tổn thương cơ thể do các vết thương mà chị N1 gây ra cho chị N, theo kết luận giám định pháp y về thương tích số: 566/17/TgT, ngày 03/11/2017 là 08%. Chị N1 là người có lỗi chính, đã chủ động tấn công chị N trước, tuy nhiên chị N cũng đánh trả dẫn đến đánh lộn lẫn nhau. Bản án sơ thẩm buộc chị N1 bồi thường cho chị N tổn thất về tinh thần bằng 04 lần mức lương cơ sở là thấp. Vì vậy, chấp nhận kháng cáo của chị N về yêu cầu bồi thường thêm khoản tiền bù đắp về tổn thất tinh thần. Buộc chị N1 bồi thường cho chị N số tiền tổn thất tinh thần là: 05 lần x 1.390.000đ = 6.950.000 đồng.
Ngoài số tiền bồi thường đối với thu nhập thực tế bị mất, thu nhập của người chăm sóc và khoản tiền tổn thất tinh thần, bản án sơ thẩm còn buộc chị N1 phải bồi thường cho chị N 5.980.000 đồng tiền chi phí hợp lí cho việc cứu chữa, 3.000.000 đồng tiền bồi dưỡng sức khỏe. Như vậy, tổng cộng chị N1 phải bồi thường cho chị N tổng số tiền là: 30.330.000 đồng (Ba mươi triệu ba trăm ba mươi nghìn đồng).
Về án phí:
Do kháng cáo của chị N được chấp nhận một phần nên chị N không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, do Hội đồng xét xử sửa mức bồi thường của chị N1 đối với chị N nên sửa phần án phí dân sự sơ thẩm mà chị N1 phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 147, 148 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn chị Hoàng Hồng N. Sửa bản án sơ thẩm.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 584, các Điều 585, 590 của Bộ luật dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Buộc chị Hoàng Thị Mai N1 phải bồi thường cho chị Hoàng Hồng N, tổng số tiền là 30.330.000 đồng (Ba mươi triệu ba trăm ba mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, mà bên phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ của mình thì phải trả lãi đối với số tiền chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền tương ứng với thời gian chậm thi hành án. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, nếu không thỏa thuận thì thực hiện theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.
2. Về án phí:
Chị Hoàng Thị Mai N1 phải chịu 1.516.000 đồng (Một triệu năm trăm mười sáu nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện kiểm sát tỉnh Quảng Ninh; - Tòa án huyện Hoành Bồ; - Chi cục Thi hành án huyện Hoành Bồ; - Văn phòng; - Lưu hồ sơ. | ̀ ́ T XỬ TM. HỘI ĐÔNG XE THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Hương Giang |