- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn H - Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 202; các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 và Điều 47 Bộ luật Hình sự 1999;
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2018/HSST Ngày: 07/3/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Quảng;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hải ến, bà Đ Thị Hải.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Khắc Cường - Là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Ông Hồ Ngọc Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2018/TLST-HS, ngày 01 tháng 02 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2018/QĐXXST-HS, ngày 23 tháng 02 năm 2018, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn H; sinh ngày 24/12/1993; nơi sinh: Phú ên; nơi đăng ký thường trú: Thôn HY., xã A, huyện T, tỉnh Phú ên; nơi cư trú: Số 13 đường Ph, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; văn hóa: 7/12; nghề nghiệp: Lái xe; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật; con ông Lê Văn H1 (đã chết) và bà Đặng Thị S, sinh năm 1963, hiện đang sinh sống tại xã A, huyện T, tỉnh Phú ên; bị cáo là con thứ ba trong gia đình có bốn anh em; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, (Có mặt).
Bị hại: Anh Cao Xuân Ngh, sinh năm 1982, (đã chết);
Đại diện hợp pháp của ng i bị hại: Ông Cao Xuân H2, sinh năm 1951, (là bố anh Nghi); trú tại: Thôn x, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, (có mặt);
Bị đơn dân sự: Công ty TNHH HV; địa chỉ: Số 13A, đường Ph, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng;
Ng i đại diện theo ủy uy n: Bà Liêu Thị Th, sinh năm 1982; chức vụ: Kế toán trưởng; trú tại: Khu 4, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng, (có mặt).
Ng i l m ch ng: Anh Phạm Hoàng Tr, sinh năm 1993; trú tại Xóm X, Thôn Y, xã Đ, TP Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các t i liệu có trong hồ sơ vụ án v diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:
Lê Văn H có giấy phép lái xe hạng C, là lái xe theo hợp đồng của Công ty TNHH HV (sau đây viết tắt là Công ty HV) do bà Lê Thị Mộng Th1 làm giám đốc. Vào chiều ngày 15/9/2017, H điều khiển xe ô tô biển số 49C-099.XX có trọng tải 15,6 tấn của Công ty HV chở hàng từ Thành phố Hồ Chí Minh về tỉnh Lâm Đồng. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày xe của H chạy đến Km 109+700 Quốc lộ 20 thuộc xã Đ, thành phố B. H quan sát phía trước thấy một xe ô tô tải đang chạy cùng chiều và chạy chậm nên đã bật đèn xi nhan và đánh tay lái sang bên trái đường để xin vượt. Ngay lúc này H nhìn thấy từ xa có ánh đèn xe mô tô chạy ngược chiều, mặc dù xe tải phía trước cũng không có tín hiệu cho vượt và không nhường đường nhưng H v n chủ quan tăng ga cho xe mình vượt lên. Khi khoảng cách giữa xe của H với xe mô tô còn khoảng 20m thì H đạp phanh và đánh tay lái sang bên phải đường để tránh, nhưng vì đang vượt xe tải nên không thể tránh được. Do đó phần hông và bánh phía sau xe ô tô của H đã va vào xe mô tô biển số 49P4-66XX, do anh Cao Xuân Ngh, sinh năm 1982, trú tại Thôn 4, xã Đ, thành phố B điều khiển; hậu quả làm anh Ngh té xuống đường tử vong. Sau khi gây tai nạn H điều khiển xe ô tô tấp vào lề đường bên phải (theo hướng lưu thông), rồi đi bộ quay lại vị trí tai nạn thì có nhiều người dân hai bên đường đi ra hỏi, có phải H gây tai nạn hay không. Vì lo sợ bị người dân đánh nên H không thừa nhận và lái xe ô tô rời khỏi hiện trường. Vào ngày 16/9/2017 Cơ quan điều tra đã triệu tập H đến làm việc; lúc đầu H không thừa nhận, nhưng sau đó đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình.
Hiện trường vụ tai nạn giao thông được xác định tại Km 109+700 Quốc lộ 20 xã Đ, thành phố B. Mặt đường được trải nhựa bằng phẳng và thẳng, rộng 10,7m; ở giữa có vạch sơn màu vàng đứt đoạn phân chia các phần đường. Phần đường bên phải theo hướng từ Đà Lạt đi thành phố Hồ Chí Minh rộng 5,17m; lấy mép đường trên làm chuẩn xác định vị trí, dấu vết để lại như sau.
Sau tai nạn xe ô tô 49C-099.XX để lại hai vết chà lết cao su in đậm trên mặt đường, được đánh dấu bằng số 01 và số 02; vị trí hai vết phanh nêu trên nằm hoàn toàn bên trái đường theo hướng ô tô do H điều khiển. Vết phanh (số 01) có chiều dài là 14,5m, điểm đầu và điểm cuối cách mép đường chuẩn lần lượt là 2,94m và 03m. Vết phanh (số 02) có chiều dài là 14,1m, điểm đầu và điểm cuối cách mép đường chuẩn lần lượt là 4,3m và 4,36m.
Sau tai nạn xe mô tô 49P4-66XX đổ nghiêng trên phần đường phải, theo hướng từ Đà Lạt đi thành phố Hồ Chí Minh. Tâm trục bánh trước cách mép đường chuẩn là 1,3m; tâm trục bánh sau cách mép đường chuẩn là 0,35m. Nạn nhân Cao Xuân Ngh bị ngã trượt trên mặt đường và nằm trong lề đường bên phải theo hướng từ Đà Lạt đi thành phố Hồ Chí Minh. Vị trí nạn nhân nằm cách mép ngoài đường chuẩn là 0,68m.
Khám nghiệm các dấu vết trên xe ô tô 49C-099.XX xác định: Mặt ngoài của lốp cao su bánh đôi thứ ba bên trái có vết chà sạch đất kích thước 3,3cm x 24cm; trên đường đi của vết chà sát có 02 vết sùi cao su có kích thước lần lượt là 0,7cm x 0,1cm và 0,3cm x 0,1cm nằm dọc theo vòng tròn trên mặt lăn.
Khám nghiệm các dấu vết trên xe mô tô 49P4-66.29 xác định: Đầu bọc gác chân trước bên trái có vết chà sát cao su sáng hơn các vị trí kế cận, có kích thước 03cm x 1,6cm; trục gác chân cong từ trước ra sau một góc khoảng 10 độ.
Theo Kết luận giám định số 1610/GĐ-PC54, ngày 23/9/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng xác định: Vùng va chạm đầu tiên giữa xe ô tô biển số 49C-099.XX và xe mô tô 49P4-66XX tại khu vực phía trước (số 4) thuộc phần đường của xe mô tô 49P4-66XX. Vết chà sát lốp, sạch đất, tại mặt ngoài lốp ngoài bánh đôi thứ ba bên trái, kèm theo 02 vết sùi cao su của xe ô tô 49C-099.XX phù hợp với vết chà sát cao su tại đầu bọc gác chân trước bên trái kèm cong trục gác chân hướng từ trước ra sau của xe mô tô 49P4-66XX. Tốc độ xe ô tô 49C-099.XX vào thời điểm xảy ra vụ tai nạn giao thông là 33,24km/h. Gai lốp 2-3-4 của m i lốp đơn thuộc hàng lốp đôi thứ ba bên phải và bên trái của xe ô tô 49C-099.XX khi phanh tạo ra được vết phanh tại hiện trường.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 293/2017/KLPY, ngày 21/9/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Lâm Đống kết luận, nạn nhân Cao Xuân Ngh tử vong do chấn thương sọ não. Như vậy l i của vụ tai nạn giao thông là do Lê Văn H vượt xe không đảm bảo an toàn, vi phạm khoản 2 Điều 14 luật Giao thông đường bộ.
Về trách nhiệm dân sự: Sau tai nạn bị cáo H cùng với chủ xe đã bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền là 120.000.000đ. Đại diện hợp pháp của người bị hại là ông Cao Xuân H2 cam kết không yêu cầu gì thêm.
Tại bản Cáo trạng số 14/CT-VKS, ngày 31 tháng 01 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố bị cáo Lê Văn H về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm c khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự 1999.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng, đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 202, các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47 và Điều 60 Bộ luật Hình sự 1999, xử phạt bị cáo Lê Văn H từ 24 đến 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 đến 05 năm. Bị cáo Lê Văn H khai nhận, đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nêu, bị cáo không thắc mắc, khiếu nại gì về nội dung, thấy đúng với tội của mình, xin được giảm nhẹ hình phạt. Đại diện người bị hại là ông Cao Xuân Hương yêu cầu bị cáo bồi thường thêm cho gia đình ông số tiền sửa chữa chiếc xe mô tô bị hư hỏng và h trợ tiền thuốc men điều trị cho bà Đậu Thị H3 (là mẹ anh Ngh) tổng cộng là 20.000.000đ, vì hiện nay bà thường đau ốm; bị cáo H nhất trí bồi thường.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c v o các t i liệu trong hồ sơ vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nh sau:
Vào ngày 15/9/2017 bị cáo H điều khiển xe ô tô tải biển số 49C-099.XX lưu thông trên Quốc lộ 20 theo hướng từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Đà Lạt. Khi xe của bị cáo chạy đến Km 109+700 thuộc địa phận xã Đại Lào, thành phố B, mặc dù phía trước có xe tải đang lưu thông cùng chiều, không nhường đường và không ra tín hiệu cho vượt nhưng bị cáo v n lấn sang trái đường để vượt lên. Vì vậy xe ô tô của bị cáo đã va vào xe mô tô do anh Cao Xuân Ngh điều khiển chạy ngược chiều, hậu quả làm anh Ngh tử vong. Đối chiếu lời khai của bị cáo, đại diện người bị hại, nhân chứng, vật chứng thu giữ và kết luận giám định, có đủ căn cứ khẳng định hành vi của bị cáo đã vi phạm vào khoản 2 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ, phạm vào tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Sau khi gây tai nạn do bị cáo không thừa nhận hành vi của mình mà lái xe rời khỏi hiện trường, không cứu giúp người bị nạn nên hành vi của bị cáo đã phạm vào điểm c khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự 1999.
Xét tính chất hành vi do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện thái độ coi thường pháp luật, hành vi trên không những xâm phạm đến tính mạng, tài sản của người cùng tham gia giao thông khác mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương; sau khi gây tai nạn bị cáo bỏ chạy, không cứu giúp người bị nạn, vì vậy cần lên cho bị cáo một hình phạt nghiêm khắc để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng thấy rằng bị cáo thật thà khai báo, sau tai nạn đã cùng với chủ xe tự nguyện bồi thường cho gia đình người bị hại, đại diện người bị hại có đơn xin bãi nại, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên cần áp dụng các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 và Điều 47 Bộ luật hình sự 1999 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần.
Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tạm giữ sau đó trả lại 02 chiếc xe liên quan đến tai nạn cho chủ sở hữu nên không đề cập đến. iêng Giấy phép lái xe ô tô của bị cáo hiện đang tạm giữ, căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, trả lại cho bị cáo là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo H cùng với công ty HV đã bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 120.000.000đ, tại phiên tòa ông Cao Xuân Hương yêu cầu bị cáo bồi thường thêm số tiền sửa xe mô tô và h trợ tiền thuốc men điều trị cho bà Đậu Thị H3 (là mẹ anh Ngh) tổng cộng 20.000.000đ, bị cáo H nhất trí bồi thường nên cần chấp nhận.
Trong quá trình khởi tố điều tra, kiểm sát hoạt động điều tra và truy tố bị cáo ra trước tòa, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã nghiêm túc thực hiện các hành vi, quyết định tố tụng, đảm bảo việc giải quyết vụ án đúng pháp luật.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 202; các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 và Điều 47 Bộ luật Hình sự 1999;
Xử phạt bị cáo Lê Văn H 15 (M i lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe ô tô mang tên Lê Văn H.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 591 Bộ luật Dân sự 2015, buộc bị cáo Lê Văn H phải bồi thường cho gia đình nạn nhân Cao Xuân Ngh số tiền 20.000.000đ (Hai m ơi triệu đồng), (ông Cao Xuân H2 nhận thay).
Kể từ ng y ng i đ ợc thi h nh án có đơn yêu cầu thi h nh án, bên phải thi hành án còn phải trả số ti n lãi, t ơng ng với th i gian v số ti n chậm trả, theo m c lãi suất ui định tại khoản 2 Đi u 357 Bộ luật dân sự.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui định về án phí, lệ phí tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ng n đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, đại diện người bị hại, bị đơn dân sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
Tr ng hợp bản án, uyết định đ ợc thi h nh theo uy định tại đi u 2 Luật thi hành án dân sự thì ng i đ ợc thi h nh án dân sự, ng i phải thi h nh án dân sự có uy n thỏa thuận thi h nh án, uy n yêu cầu thi h nh án, tự nguyện thi h nh án hoặc bị c ỡng chế thi h nh án theo ui định tại các đi u 6, 7 v 9 Luật thi h nh án dân sự; th i hiệu thi h nh án đ ợc thực hiện theo ui định tại đi u 30 Luật thi h nh án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng - VKSND tỉnh Lâm Đồng - VKSND thành phố Bảo Lộc - Người tham gia tố tụng - Chi cục T.H.A. - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Khắc Quảng |