- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Bắc - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2018/HS-ST Ngày 16-01-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG,TỈNH HẢI DƢƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hà Thị Thúy và ông Lê Quang Khỏe.
Thư ký Tòa án: Bà Mai Hƣơng Sen – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2018, tại Nhà văn hóa khu 8 phường Phạm Ngũ Lão, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 269/2017/TLST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2018/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn B, sinh năm 1966 tại Hải Dương. Nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P và bà Đoàn Thị C; có vợ là Đoàn Thị T và 03 con; tiền sự: Không; tiền án: Bản án số 136 ngày 18/8/2015 Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tổng hợp hình phạt 18 tháng tù về tội Cướp giật tài sản tại bản án số 15 ngày 18/3/2015 của Tòa án nhân dân huyện N, buộc chấp hành hình phạt chung là 27 tháng tù; Bản án số 87 ngày 30/5/2017 Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương xử phạt 07 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; bị tạm giữ từ ngày 31/10/2017 đến ngày 02/11/2017 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Kim Chi-Công an Hải Dương đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại:
+ Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1940; trú tại: 72 V, phường H, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, vắng mặt tại phiên tòa).
+ Bà Nghiêm Thị Hải, sinh năm 1948; trú tại: 40 C, phường B, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tại bản cáo trạng số 07/VKS-HS ngày 25/12/2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương truy tố Nguyễn Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự với căn cứ:
Vào sáng ngày 24/10/2017, Nguyễn Văn B đi bộ trên các tuyến phố thuộc thành phố Hải Dương với mục đích nếu ai để sơ hở tài sản thì trộm cắp. Khoảng 11 giờ cùng ngày, Bắc đi đến đường Cô Đông, phường Bình Hàn, khi đến trước số nhà 42 Cô Đông B nhìn thấy một chiếc xe đạp mini màu đỏ được xác định là tài sản của bà Nghiêm Thị H dựng trong sân, không có người trông coi nên Bắc đã đi vào dắt chiếc xe đạp ra đường nhưng bị anh Vũ Quang H và chị Nguyễn Thị Y phát hiện bắt giữ Bắc cùng vật chứng. Mặc dù cơ quan điều tra đang xem xét hành vi trộm cắp tài sản, cũng với thủ đoạn tương tự vào khoảng 8 giờ 30 phút ngày 31/10/2017 B đi bộ vào chợ Con trên đường P thuộc phường Q, thành phố Hải Dương thì phát hiện thấy một chiếc xe đạp mi ni Nhật màu đen được xác định là tài sản của ông Nguyễn Văn D đang mua rau. Do ông D không mải mua hàng không để ý nên B đã tiếp cận gạt chân chống xe dắt đi được khoảng 3m thì bị ông D phát hiện cùng quần chúng nhân dân bắt giữ Bắc.
Tại kết luận định giá tài sản số 229/KL-HĐĐG ngày 23/11/2017, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND thành phố Hải Dương kết luận: Giá trị của chiếc xe mini màu đỏ là tài sản của bà Nghiêm Thị H là 600.000đ và tại kết luận định giá tài sản số 234/KL-HĐĐG ngày 23/11/2017, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND thành phố Hải Dương kết luận: Giá trị của chiếc xe mini màu đen là tài sản của ông Nguyễn Văn D là 800.000đ
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn B thừa nhận bản thân chính là người thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc xe mini màu đỏ trong sân số nhà 42 C thuộc phường B, thành phố Hải Dương của bà Nghiêm Thị H vào trưa ngày 24/10/2017 và cũng là người thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc xe mini màu đen tại khu vực cổng chợ Con thuộc đường P, thành phố Hải Dương của ông Nguyễn Văn D vào sáng ngày 31/10/2017. Bị cáo nhất trí với các kết luận định giá tài sản không có thắc mắc gì; đồng thời thể hiện thái độ ăn năn hối cải; công nhận Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự là đúng; bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Người bị hại bà Nghiêm Thị H và ông Nguyễn Văn D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà Hải và ông Du xác định đã nhận lại tài sản là xe đạp. Bà H, ông D không yêu cầu bị cáo phải bồi thường bất cứ khoản nào và đề nghị xem xét trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa trình bày quan điểm vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt chính: Áp dụng điểm b Khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 09 đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 31/10/2017.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu án phí sơ thẩm hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về chứng cứ xác định bị cáo Nguyễn Văn B có tội:
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn B thừa nhận vào khoảng 11 giờ ngày 24/10/2017 bản thân là người trực tiếp thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc xe đạp mini màu đỏ dựng tại sân nhà số 42 C thuộc phường B, thành phố Hải Dương là tài sản của bà Nghiêm Thị H trị giá 600.000đ và vào khoảng 8 giờ 30 phút ngày 31/10/2017 bản thân là người trực tiếp thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc xe đạp mini màu đen tại khu vực chợ Con trên đường P thuộc phường Q, thành phố Hải Dương trị giá 800.000đ. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của các bị hại theo kết luận định giá tài sản là 1.400.000đ. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang (BL34), biên bản vụ việc (BL 65). Các chứng cứ nêu trên phù hợp với các chứng cứ khác như: Sơ đồ hiện trường; bản tự khai của bị cáo, biên bản lấy lời khai bị cáo, biên bản hỏi cung bị cáo, biên bản lấy lời khai của người bị hại, biên bản lấy lời khai người làm chứng đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Từ những chứng cứ nêu trên, có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản với lỗi cố ý, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bà Nghiêm Thị H và ông Nguyễn Văn D. Mặc dù, trị giá tài sản các lần bị cáo chiếm đoạt của các bị hại đều dưới hai triệu đồng nhưng bị cáo là người đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích nên bị cáo Nguyễn Văn B bị Viện kiểm sát truy tố và bị đưa ra xét xử hôm nay về tội danh “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999 là đủ căn cứ, đúng người thực hiện hành vi phạm tội và đúng pháp luật. Căn cứ công văn số 04/TANDTC-PC ngày 09/01/2018 về việc áp dụng BLHS năm 2015 và nghị quyết 41 của Quốc hội thì tại thời điểm xét xử tội danh “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 BLSH năm 2015 là tội danh quy định xóa bỏ một hình phạt so với quy định tại Điều 138 BLHS năm 1999 là quy định có lợi cho bị cáo nên HĐXX sẽ áp dụng các điều khoản quy định tại BLHS năm 2015 khi xét xử đối với bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bản thân bị cáo thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản nhưng gây thiệt hại không lớn; quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h và điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hai hành vi trộm cắp tài sản, mặc dù giá trị tài sản các lần đều dưới 2 triệu nhưng bị cáo là người đã bị kết án chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Chiếc xe đạp mini màu đỏ đã được trả lại cho bà Nghiêm Thị H, chiếc xe đạp mini màu đen đã được trả lại cho ông Nguyễn Văn D (BL45+76). Người bị hại bà Hải và ông Du không yêu cầu bị cáo phải bồi thường khoản nào khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Căn cứ Biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL34) và Biên bản vụ việc (BL65) và sự thừa nhận về hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo. Căn cứ kết luận định giá tài sản (BL26+28), bản án kết tội bị cáo chưa được xóa án tích xác định đủ yếu tố cấu thành tội phạm, cơ quan cảnh sát điều tra đã Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn B, quyết định nhập vụ án và tiến hành hoạt động điều tra lấy lời khai, hỏi cung bị can, lấy lời khai người bị hại và người làm chứng là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về các vấn đề khác: Tại biên bản vụ việc (BL65) ngày 24/10/2017 cơ quan điều tra đã thu giữ của Nguyễn Văn B 04 chiếc điện thoại di động B khai trộm cắp tại Bệnh viện tâm thần kinh Hải Dương đóng tại địa bàn huyện Gia Lộc. Ngày 10/11/2017 công an thành phố Hải Dương đã tiến hành bàn giao 4 chiếc điện thoại này cho công an huyện Gia Lộc để xem xét giải quyết theo thẩm quyền là phù hợp pháp luật (BL 118).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm b Khoản 1 Điều 173; điểm g Khoản 1 Điều 52; điểm h (phạm tội gây thiệt hại không lớn) và điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 31/10/2017.
3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu 200.000đ án phí sơ thẩm hình sự.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại ông Nguyễn Văn Du và bà Nghiêm Thị Hải có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - Viện Kiểm sát nhân dân TP Hải Dương; - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương; - Cơ quan CSĐT công an TP Hải Dương; - Cơ quan THAHS công an TP Hải Dương - Trại tạm giam Kim Chi – Công an Hải Dương; - Chi cục THADS thành phố Hải Dương; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Lưu hồ sơ vụ án. - Lưu VP. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Xuân Hiền |