vanban.org

Bản án 11/2018/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 26/02/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/02/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên b bị cáo Nguyễn Qu c H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tú ”; tội “Vận chuyển trái phép chất ma tú ”. ị cáo Nguyễn Qu c H2 phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tú ”.

Áp dụng kho n 1 Điều 194; điểm p kho n 1 Điều 46; các Điều 20, 53 của Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết s 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Qu c hội; kho n 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (tội “Tàng trữ trái phép chất ma tú ”) đ i với bị cáo Nguyễn Qu c H1; Xử phạt bị cáo Ngu ễn Qu c H1 02 …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quốc H1, Nguyễn Quốc H2 - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên b bị cáo Nguyễn Qu c H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tú ”; tội “Vận chuyển trái phép chất ma tú ”. ị cáo Nguyễn Qu c H2 phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tú ”.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật t tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

n án s : 11/2018/HS-PT
Ngà : 26-02-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kim Đồng

Các Thẩm phán:

Bà Hoàng Thị Minh Hương

Ông Võ Đình Nghị

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Lý, là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Du, Kiểm sát viên.

Ngà 26 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý s 16/2018/TLPT-HS ngày 29/01/2018 đ i với các bị cáo Nguyễn Qu c H1, Nguyễn Qu c H2 do kháng cáo của các bị cáo đ i với B n án hình sự sơ thẩm s 185/2017/HS-ST ngày 28-11-2017 của Tòa án nhân dân thành ph Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Quốc H1, sinh ngày 24-7-1992, tại tỉnh Lâm Đồng; Nơi ĐKHKTT và cư trú: s 50 Xuân An (khuôn hội Bồ Đề), phường 3, thành ph Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp Làm thuê; Trình độ học vấn 7/12; Dân tộc Kinh; Giới tính Nam; Qu c tịch Việt Nam; Tôn giáo Phật; Con ông Nguyễn Văn Hòa (đã chết), con bà Nguyễn Thị Thanh Thủy, sinh năm: 1972; Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt ngày 08-8-2017, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ, Công an thành ph Đà Lạt, Có mặt.

2. Họ và tên: Nguyễn Quốc H2, sinh ngày 15-4-1994 tại tỉnh Lâm Đồng; Nơi ĐKHKTT và cư trú s 50 Xuân An (khuôn hội Bồ Đề), phường 3, thành ph Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp Thợ sơn nước; Trình độ học vấn 5/12; Dân tộc Kinh; Giới tính Nam; Qu c tịch Việt Nam; Tôn giáo Phật; Con ông Nguyễn Văn Hòa (đã chết), con bà Nguyễn Thị Thanh Thủy, sinh 1972; Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt ngày 08-8-2017, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ, Công an thành ph Đà Lạt, Có mặt.

- Người bào chữa cho các bị cáo:

Luật sư Lê Cao T, Văn phòng Luật sư BT, Đoàn luật sư tỉnh Lâm Đồng. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Các bị cáo H1, bị cáo H2 là anh em ruột, cùng sử dụng ma tú đá và quen biết với đ i tượng tên “Q” (chưa xác định rõ nhân thân lai lịch) ở Thành Ph Hồ Chí Minh; đã nhiều lần đ i tượng tên “Q” đến nhà các bị cáo chơi và mang theo ma tú đá cho các bị cáo cùng sử dụng.

Ngày 06-8-2017, đ i tượng tên “Q” đến nhà các bị cáo chơi và lấ ma tú đá cho các bị cáo cùng hút; trước khi về Thành Ph Hồ Chí Minh, đ i tượng tên “Q” đưa cho bị cáo H1 04 gói ma tú đá để cất giữ, sử dụng.

Ngày 08-8-2017, đ i tượng tên “Q” gọi điện thoại cho bị cáo H1 nói “gửi lên cho bị cáo H1 01 chiếc quạt điện cũ, bên trong có chứa ma tú đá và nhờ bị cáo H1 giao cho anh Nghiêm Xuân Đ” thì bị cáo H1 đồng ý. Đến 16 giờ cùng ngà , bị cáo H1 đến ến xe Thành ưởi tại Đà Lạt nhận chiếc quạt điện bên trong có chứa ma tú đá đem về nhà, sau đó nhờ bị cáo H2 đem đi giao cho anh Đ. ị cáo H2 biết bên trong quạt điện có chứa ma tú đá, sợ bị Cơ quan Công an phát hiện nên từ ch i. Do thấ bị cáo H1 đi làm về đã mệt và thấ anh Đ liên tục gọi điện thoại giục nên bị cáo H2 đã đồng ý.

Đến kho ng 18 giờ cùng ngà , bị cáo H2 đem chiếc quạt điện bên trong có giấu ma tú đá theo chỉ dẫn của bị cáo H1 đi giao cho anh Đ. Khi đến đường Triệu Việt Vương, bị cáo H2 chưa kịp gặp anh Đ thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt qu tang. Tiến hành kiểm tra bên trong chiếc quạt điện, phát hiện 02 gói n lon chứa chất tinh thể màu trắng nghi là chất ma tú ; sau đó tiến hành kiểm tra nhà ở của các bị cáo thu giữ 04 gói n lon chứa chất tinh thể màu trắng nghi là chất ma tú . ị cáo H1 khai nhận là ma tú đá do đ i tượng tên “Q” cho bị cáo H1 cất giữ nhằm mục đích sử dụng.

Vật chứng: thu giữ 02 gói n lon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng thu giữ bên trong chiếc quạt điện (ký hiệu M1); 04 gói n lon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng thu giữ tại phòng ngủ của H1 (ký hiệu M2); 01 túi n lon màu vàng, có ghi chữ “anh H1-01217984894” và dán phiếu bằng giấ màu trắng ghi chữ “Hu -01217984894, Đà Lạt, Phan ội Châu. P1; Kiện quạt 1/1(08)2.5.N08/08/08-CR.3GC”; 01 chiếc quạt điện cũ (đã tháo rời để kiểm tra, thu giữ ma tú cất giấu bên trong quạt); 01 bình gắn ng thủ tinh dùng để hút ma tú đá.

Ngoài ra, còn thu giữ 01 chứng minh nhân dân mang tên Ngu ễn Qu c H2; 01 giấ chứng minh nhân dân mang tên Ngu ễn Qu c H1; Thu giữ của bị cáo H1 01 điện thoại di động hiệu Samsung (vỏ màu trắng bạc, mặt kính bị nứt vỡ, bên trong có gắn sim s 01217984894); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 6300 (vỏ màu vàng đồng, bên trong không có sim); thu giữ của bị cáo H2 01 điện thoại di động hiệu Iphone (màu xanh đen, màn hình bị nứt vỡ, bên trong có sim s 0901608094)

Tại Kết luận giám định s 1153/GĐ-PC54 ngày 10-8-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Lâm Đồng xác định:

+ Mẫu tinh thể đựng trong 02 gói n lon được niêm phong (ký hiệu M1) là ma tú , có kh i lượng 5,8248g, loại Methamphetamine, trong danh mục II, STT 67, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19-7-2013 của Chính phủ.

+ Mẫu tinh thể đựng trong 04 gói n lon được niêm phong (ký hiệu M2) là ma tú , có kh i lượng 2,7790g, loại Methamphetamine, trong danh mục II, STT 67, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19-7-2013 của Chính phủ.

B n án hình sự sơ thẩm s 215/2017/HS-ST ngày 29-12-2017 của Tòa án nhân dân thành ph Đà Lạt tuyên b bị cáo Nguyễn Qu c H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tú ”; tội “Vận chuyển trái phép chất ma tú ”; Bị cáo Nguyễn Qu c H2phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tú ”.

- Áp dụng kho n 1 Điều 194; điểm p kho n 1 Điều 46; các Điều 20, 53 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết s 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Qu c hội và Bộ luật hình sự năm 2015 đ i với bị cáo Nguyễn Qu c H1;

Xử phạt bị cáo Ngu ễn Qu c H1 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tú ”; 03 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tú ”; Áp dụng Điều 50 của ộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Ngu ễn Qu c H1 ph i chấp hành chung cho hai tội là 05 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 08-8-2017.

Áp dụng kho n 1 Điều 194; điểm p kho n 1 Điều 46; các Điều 20, 53 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết s 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Qu c hội và Bộ luật hình sự năm 2015 đ i với bị cáo Nguyễn Qu c H2;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Qu c H2 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08-8-2017;

Ngoài ra, b n án còn xử lý vật chứng, tuyên án phí, quyền kháng cáo theo qu định pháp luật.

Ngày 11-01-2018 các bị cáo kháng cáo xin gi m nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm; các bị cáo H1, bị cáo H2 khai nhận như b n án sơ thẩm quy kết, không thắc mắc khiếu nại đ i với b n án sơ thẩm; đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận kháng cáo. Luật sư bào chữa cho các bị cáo cho rằng bị cáo H2 phạm tội “vận chuyển trái phép chất ma tú ”, cấp sơ thẩm phạt 2 năm 6 tháng tù là quá nặng, đề nghị chấp nhận kháng cáo để gi m một phần hình phạt cho bị cáo. Đ i với bị cáo H1 bị quy kết về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tú ” với hành vi mờ nhạt, đề nghị Tòa án xem xét.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a kho n 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật t tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên b n án sơ thẩm

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xuất phát từ việc các bị cáo H1, bị cáo H2 quen biết với đ i tượng tên “Q” (chưa xác định rõ nhân thân lai lịch) ở Thành ph Hồ Chí Minh; nên ngà 08-8-2017, đ i tượng tên “Q” gởi lên cho bị cáo H1 02 gói ma tú loại Methamphetamine, kh i lượng 5,8248g được ngụ trang cất giấu trong chiếc quạt điện cũ, để bị cáo H1 giao cho đ i tượng tên Đô. ị cáo H2 biết chiếc quạt điện cũ cất giấu ma tú nhưng khi bị cáo H1 nói bị cáo H2 đi giao chiếc quạt điện cũ cho anh Đ thì bị cáo H2 đồng ý và chưa kịp giao thì bị phát hiện bắt qu tang. Như vậ , hành vi bị cáo H1 thực hiện “vận chu ển ma tú ” từ ến xe Thành ưởi về nhà, sau đó chính bị cáo H1 nói bị cáo H2 tiếp tục “vận chu ển ma tú ” từ nhà đi giao cho đ i tượng tên Đ là phù hợp lời khai các bị cáo, vật chứng thu giữ như 01 túi n lon màu vàng, có ghi chữ “anh H1-01217984894” và dán phiếu bằng giấ màu trắng ghi chữ “Hu -01217984894, Đà Lạt, Phan ội Châu. P1; Kiện quạt 1/1(08)2.5.N08/08/08-CR.3GC”; 01 chiếc quạt điện cũ, nên Luật sư bào chữa là không có căn cứ.

Ngoài ra, sau khi khám xét nơi ở bị cáo H1, phát hiện 04 gói ma tú loại Methamphetamine, kh i lượng 2,7790g, bị cáo H1 khai nhận là ma tú đá do đ i tượng tên “Q” cho bị cáo H1 cất giữ nhằm mục đích sử dụng. Đ i chiếu lời khai các bị cáo, biên b n phạm tội qu tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định; cấp sơ thẩm tuyên b bị cáo Nguyễn Qu c H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tú ”; tội “Vận chuyển trái phép chất ma tú ”. ị cáo Nguyễn Qu c H2 phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tú ” qu định kho n 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Xét kháng cáo của bị cáo, đ i chiếu với tài liệu chứng cứ thể hiện: Hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, không những gây nh hưởng đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương nhất là loại tội phạm về ma túy hiện đang nổi cộm, mà còn một trong những nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự như các bị cáo thành khẩn khai báo, qu định điểm p kho n 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra đ i với tội “Vận chuyển trái phép chất ma tú ”, cấp sơ thẩm áp dụng Điều 20, 53 của Bộ luật hình sự để phân hóa vai trò từng bị cáo để quyết định mức hình phạt là thỏa đáng.

Đ i với hành vi “Tàng trữ trái phép các chất ma tú ” theo kho n 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 (sau đâ gọi tắt Bộ luật hình sự 1999) qu định hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm tù; đ i chiếu kho n 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đâ gọi tắt Bộ luật hình sự 2015) qu định hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm tù, nên căn cứ Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Qu c hội về thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 để áp dụng kho n 1 Điều Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 theo hướng có lợi cho bị cáo H1; Cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ cho bị cáo H1 là phù hợp.

Đ i với hành vi “Vận chuyển trái phép các chất ma tú ” kh i lượng 5,8248g loại Methamphetamine, theo kho n 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999 qu định hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm tù, trong khi đó, với kh i lượng ma túy nêu trên thuộc trường hợp điểm h kho n 2 Điều 250 của Bộ luật hình sự năm 2015 qu định hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm tù; cấp sơ thẩm áp dụng Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 là không đúng, nên cần sửa b n án sơ thẩm, không áp dụng Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 về hành vi “vận chuyển trái phép chất ma túy” đ i với bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo kháng cáo gi m nhẹ hình phạt nhưng không xuất trình tài liệu tình tiết gi m nhẹ mới. Do vậy, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo; cần giữ nguyên b n án sơ thẩm.

Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, nên các bị cáo ph i chịu án phí hình sự phúc thẩm theo qu định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm căn cứ điểm a kho n 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật t tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên b n án sơ thẩm, Xử:

1. Tuyên b bị cáo Nguyễn Qu c H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tú ”; tội “Vận chuyển trái phép chất ma tú ”. ị cáo Nguyễn Qu c H2 phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tú ”.

- Áp dụng kho n 1 Điều 194; điểm p kho n 1 Điều 46; các Điều 20, 53 của Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết s 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Qu c hội; kho n 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (tội “Tàng trữ trái phép chất ma tú ”) đ i với bị cáo Nguyễn Qu c H1;

Xử phạt bị cáo Ngu ễn Qu c H1 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tú ”; 03 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tú ”; Áp dụng Điều 50 của ộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Ngu ễn Qu c H1 ph i chấp hành chung cho hai tội là 05 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08-8-2017.

Áp dụng kho n 1 Điều 194; điểm p kho n 1 Điều 46; các Điều 20, 53 của Bộ luật hình sự năm 1999; đ i với bị cáo Nguyễn Qu c H2;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Qu c H2 02 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08-8-2017;

2. Về án phí: Căn cứ kho n 2 Điều 135, kho n 2 Điều 136 của Bộ luật t tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Qu c Hội qu định về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Bị cáo Nguyễn Qu c H1, Nguyễn Qu c H2 mỗi bị cáo ph i chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của b n án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

B n án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ