- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và tranh chấp về nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Vũ Thị H được ly hôn anh Phạm Anh T
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI - TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:11/2018/HNGĐ-ST Ngày: 12/6/2018 V/v: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Lâm
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Băng
2. Ông Vũ Đức Thuận
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Giang, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Bà Phùng Thị Minh Hải, Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái
Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 164/2018/TLST- HNGĐ, ngày 03 tháng 5 năm 2018 về việc: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2018/QĐXXST- HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thị H, sinh năm 1980, Có mặt
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ 18, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.
2. Bị đơn: Anh Phạm Anh T, sinh năm 1979, Vắng mặt
Nơi ĐKHKTT: Tổ 16, phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.
Hiện đang cải tạo tại: Đội 04, phân trại số 02, Trại giam Hồng Ca - Tổng cục VIII - Bộ Công an - xã Hưng Khánh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 03-5-2018 và các tài liệu có trong hồ sơ cùng lời khai tại phiên tòa nguyên đơn chị Vũ Thị H trình bày:
Về hôn nhân: Chị Vũ Thị H và anh Phạm Anh T tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 19 tháng 11 năm 2004, tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh T nghiện ma túy không quan tâm đến gia đình, chị H đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh T không sửa đổi, năm 2012 anh T bị Tòa án xét xử 02 năm tù về tội “ tàng trữ trái phép chất ma túy” tháng 6 năm 2014 chấp hành xong hình phạt tù, đến tháng 6 năm 2016 anh T lại bị Tòa án xử phạt 08 năm tù về tội “mua bán trái phép chất ma túy”, từ khi anh T đi cải tạo đến nay vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị Vũ Thị H xác định tình cảm vợ chồng đã hết, chị đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn anh Phạm Anh T.
Về nuôi con chung: Chị Vũ Thị H và anh Phạm Anh T có một con chung là Phạm Vũ Bảo C, sinh ngày 06 tháng 8 năm 2009, nếu Tòa án giải quyết ly hôn chị H có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cháu C đến năm 18 tuổi và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về chia tài sản và nợ chung: Chị Vũ Thị H và anh Phạm Anh T không có nên chị H không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, bị đơn anh Phạm Anh T vắng mặt, nhưng tại bản tự khai có trong hồ sơ anh T trình bày:
Về thời gian địa điểm kết hôn như chị H trình bày là đúng, trong quá trinh chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Tháng 6 năm 2016 anh T bị Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, hiện nay anh T đang cải tạo tại Trại giam Hồng Ca. Từ khi anh T chấp hành án chị H ở nhà ngoại tình và có con riêng, trong cuộc sống chị H không quan tâm gia đình anh T, nợ tiền rất nhiều người. Nay chị H xin ly hôn anh T xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nên không đồng ý ly hôn chị H.
Về nuôi con chung: Anh Phạm Anh T xác nhận có một con chung với chị H là cháu Phạm Vũ Bảo C, sinh ngày 06 tháng 8 năm 2009, anh T không đồng ý ly hôn chị H nên anh T không đề nghị tòa án giải quyết về con chung.
Về chia tài sản và nợ chung: Anh Phạm Anh T không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái đã phát biểu ý kiến: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của các đương sự được bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thị H và giao cháu Phạm Vũ Bảo C cho chị H nuôi dưỡng đến năm 18 tuổi. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về án phí chị H phải chịu theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Phạm Anh T đang cải tạo tại trại giam Hồng Ca và có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về hôn nhân: Chị Vũ Thị H và anh Phạm Anh T tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 19 tháng 11 năm 2004, tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh T nghiện chất ma túy không quan tâm đến gia đình mâu thuẫn đó chị H và gia đình khuyên bảo nhiều lần nhưng anh T không thay đổi, hiện nay anh T đang cải tạo tại Trại giam Hồng Ca vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa. Chị H xác định tình cảm vợ chồng đã hết và đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn, anh T xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nên không đồng ý ly hôn chị H, nhưng trong bản tự khai của anh T đã thể hiện cuộc sống vợ chồng có mâu thuẫn. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Vũ Thị H và anh Phạm Anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó đề nghị xin ly hôn của chị Vũ Thị H là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về nuôi con chung: Chị Vũ Thị H và anh Phạm Anh T có một con chung cháu Phạm Vũ Bảo C, sinh ngày 06 tháng 8 năm 2009, hiện nay cháu C đang sống cùng chị H, cháu C có nguyện vọng được ở cùng chị H, mặt khác anh T đang cải tạo tại trại giam. Từ những căn cứ nêu trên xét thấy đề nghị của chị H được nuôi dưỡng cháu C là chính đáng do đó cần giao cháu C cho chị H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu C đủ 18 tuổi là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con chung chị Vũ Thị H không yêu cầu anh Phạm Anh T phải cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về chia tài sản, nợ chung: Chị Vũ Thị H và anh Phạm Anh T không có nên chị H và anh T không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Vũ Thị H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Anh Phạm Anh T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 điều 228; Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí tòa án.
1. Về hôn nhân: Chị Vũ Thị H được ly hôn anh Phạm Anh T
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Phạm Vũ Bảo C, sinh ngày 06 tháng 8 năm 2009 cho chị Vũ Thị H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu C đủ 18 tuổi. Anh Phạm Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Phạm Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở
3. Về án phí: Chị Vũ Thị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số: AA/2017/0000490, ngày 03/5/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Yên Bái (chị H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm)
Án xử công khai sơ thẩm, chị Vũ Thị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Phạm Anh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Yên Bái; - Các đương sự; - VKSND tp Yên Bái; - Chi cục THADS tp Yên Bái; - UBND phường Đ tp Y, tỉnh Yên Bái; - Lưu hồ sơ, TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đình Lâm |