vanban.org

Bản án 11/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Dân sự năm 2015, các Điều 51, 56, 81, 82, 107, 110, 116 và 118 Luật Hôn nhân gia

đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị G ly hôn ông Nguyễn Văn K"
  • Tòa quyết gì? Dân sự năm 2015, các Điều 51, 56, 81, 82, 107, 110, 116 và 118 Luật Hôn nhân gia
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HUỆ
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 07-3-2018
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Gái.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Dương Thị Ngọc Trang.

2. Ông Mai Văn Công.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Bé Đào - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân

huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.

Ngày 07 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ xét

xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 230/2017/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12

năm 2017 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

04/2018/QĐXX-ST ngày 18 tháng 01 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị G - Sinh năm 1980 - Địa chỉ: ấp A, xã B,

huyện C, tỉnh Long An. (Vắng mặt - có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Ngô Văn K - Sinh năm 1978 - Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện C,

tỉnh Long An. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 28/11/2017, các văn bản tiếp theo, nguyên đơn bà

Nguyễn Thị G trình bày: Bà và ông Ngô Văn K đám cưới tháng 3/1998, có đăng ký

kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Long An ngày 25/9/2002. Sống

chung hạnh phúc đến tháng 6/2012 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do ông K

không lo làm ăn, suốt ngày cờ bạc, đá gà, qua casino bên Campuchia đánh bạc, gây

phá tán tài sản trong gia đình. Bà đã khuyên ngăn nhưng ông K vẫn không thay đổi.

Ly thân từ tháng 10/2014 cho đến nay.

Về hôn nhân: Bà yêu cầu ly hôn với ông Ngô Văn K.

Về nuôi con chung: Có 02 con chung tên Ngô Thành S, sinh ngày

23/01/1999 và Ngô Băng D, sinh ngày 01/3/2009; hiện đang sống chung bà. Khi ly hôn con chung Ngô Thành S đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết, con chung Ngô Băng D bà yêu cầu được trực tiếp nuôi, không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nguyên đơn bà G có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông K vắng mặt tại các

phiên hòa giải và tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Bà Nguyễn Thị G khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Ngô Văn K, Tòa án nhân

dân huyện Đức Huệ tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Ông Ngô Văn K được tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng của Tòa án

nhưng ông K không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của ông, không có mặt để tham gia phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét đơn khởi kiện của bà G theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Ông K không được quyền khiếu nại về việc cung cấp chứng cứ, tham gia phiên tòa vì ông đã không có mặt theo thông báo và giấy triệu tập của Tòa án, không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông theo quy định pháp luật.

Bà Nguyễn Thị G và ông Ngô Văn K chung sống có đăng ký kết hôn

ngày 25/9/2002 tại Uỷ ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Long An. Quan hệ hôn nhân giữa bà G và ông K là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu ly hôn của bà G, Hội đồng xét xử nhận định: Bà G cho rằng

vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do ông K không lo làm ăn, suốt ngày cờ bạc, đá gà, qua casino bên Campuchia đánh bạc, gây phá tán tài sản trong gia đình. Ông K vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên không có căn cứ xem xét; qua lời trình bày của bà G, Hội đồng xét xử nhận định mâu thuẫn giữa bà G và ông K đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, ông bà đã sống ly thân, tự mỗi người lo cho bản thân, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Do đó, việc bà G yêu cầu ly hôn với ông K là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nuôi con chung: con chung Ngô Thành S, sinh ngày 23/01/1999 đã

thành niên không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết. Xét yêu cầu trực tiếp nuôi

con chung Ngô Băng D, sinh ngày 01/3/2009 của bà G là có căn cứ vì phù hợp

nguyện vọng con chung, từ khi ly thân con chung do bà G nuôi dưỡng, nhằm tránh

sự thay đổi về tâm lý con chung nên giao con chung Ngô Băng D cho bà G tiếp tục

nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Xét việc bà G không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con chung là tự

nguyện, phù hợp quy định tại các Điều 82, 107, 110, 116 và 118 Luật Hôn nhân và

gia đình năm 2014 nên ghi nhận.

Về chia tài sản chung và nợ chung: bà G trình bày không có, không yêu

cầu nên không xem xét. Nếu sau này phát sinh tranh chấp tách ra giải quyết bằng

vụ án khác.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ

Quốc hội, xét thấy:

Bà G là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng tiền

án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ

thẩm đã nộp. Bà G đã nộp đủ án phí.

Ông K không phải chịu tiền án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1

Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng

Dân sự năm 2015, các Điều 51, 56, 81, 82, 107, 110, 116 và 118 Luật Hôn nhân gia

đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

thường vụ Quốc hội.

1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị G được ly hôn với ông Ngô Văn K.

2. Về nuôi con chung:

- Con chung Ngô Thành S, sinh ngày 23/01/1999 đã thành niên không yêu

cầu, nên Tòa án không giải quyết.

- Bà Nguyễn Thị G được quyền trực tiếp nuôi con chung tên Ngô Băng D,

sinh ngày 01/3/2009, hiện con chung đang sống với bà G. Ông Ngô Văn K không

phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông K được quyền tới lui thăm nom và chăm sóc con chung, khi cần thiết vì

lợi ích con chung, bà G và ông K có quyền yêu cầu thay đổi tình trạng nuôi con và

yêu cầu thay đổi khoản cấp dưỡng nuôi con theo luật hôn nhân và gia đình.

3. Về chia tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải

quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị G phải chịu 300.000 đồng tiền

án phí ly hôn, khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp (theo biên lai thu số 0008133 ngày 05/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ). Bà G đã nộp đủ tiền án phí.

5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo thủ

tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ