vanban.org

Bản án 11/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Chánh D.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Chánh D được ly hôn với chị Phạm Thị T. Về con chung: giao cháu Nguyễn Phạm D, sinh ngày 17/6/2009 cho anh Nguyễn Chánh D trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "anh Nguyễn Chánh D ly hôn chị Phạm Thị Kim T"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Chánh D.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƯ SÊ
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2018/HNGĐ-ST
Ngày 12/6/2018
“Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Ngọc Tú.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Hoa.

2. Ông Siu Tơ Lul.

Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Yến, cán bộ Toà án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Đậu Thị Thanh Xuân, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2018, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 224/2017/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2017 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Chánh D, sinh năm 1988. Có mặt.

Địa chỉ: Thôn H, xã I, huyện S, tỉnh Gia Lai

2. Bị đơn: Chị Phạm Thị Kim T, sinh năm 1991. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn H, xã I, huyện S, tỉnh Gia Lai

NỘI DUNG VỤ ÁN:

22/12/2017, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn Chánh D trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Phạm Thị Kim T qua thời gian tìm hiểu, yêu thương và tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới theo phong tục và đăng ký kết hôn vào ngày 25/02/2010 tại Ủy ban nhân dân xã I, huyện S, tỉnh Gia Lai. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên tranh cãi. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Phạm Thị Kim T.

- 1 -

- Về con chung: Trong quá trình chung sống, anh và chị Phạm Thị Kim T có 01 con chung là cháu Nguyễn Phạm D, sinh ngày 17/6/2009. Anh yêu cầu nuôi dưỡng cháu D và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Anh và chị T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn chị Phạm Thị Kim T: Từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, Toà án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng chị T đều vắng mặt không có lý do. Tại phiên toà hôm nay, chị T tiếp tục vắng mặt, không có bản tự khai, không trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết. T

phiên tòa

xét

k

, bị đơn không chấp hành theo triệu tập của Tòa án.

Anh Nguyễn Chánh D được ly hôn với chị Phạm Thị Kim T

giao cháu Nguyễn Phạm D cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng; v

Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con do anh D Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 và danh mục án phí, lệ phí theo Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc anh D 300.000 đồng

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Ngày 22/12/2017, nguyên đơn là anh Nguyễn Chánh D

chị Phạm Thị Kim T và nộp kèm các tài liệu, chứng cứ để chứng minh yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ, hợp pháp. Xét hình thức nội dung đơn khởi kiện của anh D đúng quy định, chị Trang có nơi cư trú tại thôn H, xã I, huyện S, tỉnh Gia Lai nên Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai đã tiến hành thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- 2 -

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập chị Phạm Thị Kim T đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của anh D, các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị T đều không đến Tòa án để làm việc và không cung cấp lời khai cho Tòa án. Tại phiên tòa chị T vắng mặt đến lần thứ hai không vì trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Chánh D:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Chánh D và chị Phạm Thị Kim T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn ngày 25/02/2010 tại Uỷ ban nhân dân xã I, huyện S, tỉnh Gia Lai. Quan hệ hôn nhân của anh chị được xác lập trên cơ sở tự nguyện và đảm bảo các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn, do đó quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp và được pháp luật công nhận.

Qua lời trình bày của anh D thì trong quá trình chung sống, giữa anh và chị T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh chị có sự bất đồng về quan điểm sống, thường nảy sinh tranh cãi, hiện nay không còn chung sống với nhau nữa. Do chị T không đến Tòa án để làm việc nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của chị đối với yêu cầu khởi kiện của anh D và cũng không thể làm rõ những mâu thuẫn hôn nhân của anh chị như lời anh D đã trình bày. Việc chị T vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án đã thể hiện thái độ bỏ mặc, không quan tâm, không có ý thức hàn gắn những mâu thuẫn hôn nhân giữa chị và anh D.

Kết quả xác minh về những mâu thuẫn hôn nhân giữa anh D, chị T tại nơi cư trú thể hiện mâu thuẫn hôn nhân giữa anh chị là có thật, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng anh chị có sự bất đồng về quan điểm sống, thường nảy sinh tranh cãi, chị T thường xuyên vắng nhà, không chăm lo cho gia đình.

Tại phiên tòa, mặc dù Hội đồng xét xử đã phân tích, giải thích về quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng, động viên anh D rút đơn khởi kiện xin ly hôn để quay về đoàn tụ với chị T nhưng anh D kiên quyết giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình và đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn mặc dù vắng mặt chị T với lý do vợ chồng anh chị đã mâu thuẫn từ lâu, bản thân anh hiện không còn tình cảm với chị T nữa.

Xét mâu thuẫn hôn nhân giữa anh D và chị T là có thật, mặc dù anh chị là vợ chồng nhưng đã ly thân, không sống chung với nhau một thời gian dài, anh D không còn tình cảm yêu thương chị T nên kiên quyết xin ly hôn; chị T không đến Tòa án để tham gia tố tụng, không tham gia các phiên tòa xem như từ bỏ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình; Tòa án và Hội đồng xét xử không có điều kiện để hòa giải, động viên anh chị quay về đoàn tụ. Do đó căn cứ các Điều 19, 21, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh D, xử cho anh D được ly hôn với chị T.

- 3 -

Về con chung: Trong quá trình chung sống, anh D và chị T có 01 con chung là cháu Nguyễn Phạm D, sinh ngày 17/6/2009, anh D yêu cầu nuôi dưỡng cháu D và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Tòa án đã làm việc với D và cháu có nguyện vọng được ở với anh D, đồng thời Phòng Lao động-Thương binh xã hội huyện Chư Sê có ý kiến với hoàn cảnh hiện tại, chị T thường xuyên vắng nhà, không chăm lo cho gia đình nên giao cháu cho anh D nuôi dưỡng để đảm bảo cuộc sống ổn định cho cháu. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao cháu D cho anh D trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử đã giải thích cho anh D về quyền yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con nhưng anh không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

:

anh D

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 28, 35, 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 4 Điều 147 và 266 Bộ Luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 và danh mục án phí lệ phí kèm theo Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Chánh D.

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Chánh D được ly hôn với chị Phạm Thị T.

2. Về con chung: giao cháu Nguyễn Phạm D, sinh ngày 17/6/2009 cho anh Nguyễn Chánh D trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

- 4 -

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Phạm Thị Kim T không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con trong vụ án này.

4. Về án phí: Buộc anh Nguyễn Chánh D phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước. Số tiền này được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001649 ngày 22/12/2017 của Chi cục thi hành án huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai. Anh Nguyễn Chánh D đã nộp xong.

5. Quyền kháng cáo:

Nguyên đơn là anh Nguyễn Chánh D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12/6/2018). Bị đơn là chị Phạm Thị Kim T

Cỡ chữ