vanban.org

Bản án 11/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOØA AÙN NHAÂN DAÂN
HUYEÄN BUØ GIA MAÄP
TÆNH BÌNH PHÖÔÙC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Baûn aùn soá: 11/2018/ HNGĐ- ST
Ngày 21/6/2018
V/v: “Ly hôn”

NHAÂN DANH

NÖÔÙC COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM

TOØA AÙN NHAÂN DAÂN HUYEÄN BUØ GIA MAÄP

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

- Thẩm phán –Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Chất

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Mùa

2. Ông Lê Văn Hào

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Đào- Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Mai Phi Hùng-Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 6 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 20/2018/TLST-HN&GĐ ngày 05 tháng 02 năm 2018 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2018/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn:Bà Đặng Thị Thu T, sinh năm 1994

* Bị đơn:Ông Huỳnh Văn V, sinh năm 1986

Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.

NỘI DỤNG VỤ ÁN;

Bà Đặng Thị Thu T và ông Huỳnh Văn V tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước vào ngày 19/12/2014. Trong quá trình chung sống vợ chồng sống với nhau hạnh phúc nhưng đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do ông V chơi bời, cờ bạc, đá gà, không quan tâm đến vợ con, mặc dù bà T đã khuyên răn nhiều lần nhưng ông V vẫn không thay đổi, vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ đầu năm 2018 cho đến nay, bà T thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn gia đình đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, nên bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bàđược ly hôn với ông T.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Trong quá trình chung sống bà T, ông V có 01 người con chung là cháu Huỳnh Chí V, sinh ngày 17/6/2015, khi ly hôn bà T yêu cầu được nuôi cháu V và không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà T, ông V không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng khác: kể từ ngày thụ lý vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng khác tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết vụ án:Căn cứ các Điều 28, 35 BLTTDS, Điều 51, 56, 58 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị Đặng Thị Thu T.

- Về con chung: Giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sợ vụ án được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Bà Đặng Thị Thu T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Huỳnh Văn V có hộ khẩu thường trú tạithôn Đ, xã Đ, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước. Căn cứ vào Điều51 luật Hôn nhân và Gia đình, khoản 1 Điều 28;điểm a khoản 1 Điều 35;điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án thụ lý giải quyết là đúng với quy định của pháp luật.

. Đối với bị đơn ông Huỳnh Văn V, sau khi Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập thụ lý vụ án thì ông V đã bỏ đi khỏi địa phương, Tòa án đã xác minh và tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ đối với ông V nhưng ông V vẫn vắng mặt, căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định. [3].Về quan hệ hôn nhân:Trong quá trình chung sống bà T, ông V chung sống với nhau hạnh phúc nhưng đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do ông Vchơi bời, cờ bạc, đá gà, không quan tâm đến vợ con, mặc dù bà T đã khuyên răn nhiều lần nhưng ông V vẫn không thay đổi, vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ đầu năm 2018 cho đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông V đã trở nên mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận cho bà T được ly hôn với ông V là đúng quy định theo pháp luật.

. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con:Khi ly hôn bà T có nguyện vọng được nuôi con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, khi bà T, ông V ly hôn việc giao con chung chưa thành niên cho ai trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cũng phải nhằm đảm bảo cho con chung được phát triển bình thường và ổn định về thể chất cũng như tinh thần, cũng như vì tương lai sau này của cháu, tuy nhiên cháu Huỳnh Chí V còn nhỏ, ông V đã bỏ đi khỏi địa phươngnên cần giao cháu V cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về tài sản chung và nợ chung: Bà T, ông V không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí: bà T phải nộp án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYEÁT ÑÒNH:

1. Căn cứ cácĐiều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28;điểm a khoản 1 Điều 35;điểm a khoản 1 Điều 39Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí.

1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị Thu T đối với bị đơn ông Huỳnh Văn V.

2. Về quan hệ hôn nhân:Bà Đặng Thị Thu T được ly hôn với ông Huỳnh Văn V.

3. Về con chung: Giao cháu Huỳnh Chí V, sinh ngày 17/6/2015cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu V trưởng thành đủ 18 tuổi. 4. Về án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm:Bà T phaûi nộp 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà Tt đã nộp theo biên lai thu tiền số 0018170 ngày 05/02/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước. Án sử sơ thẩm nguyên đơncó quyền kháng trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ