- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự đưa
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA Tỉnh Thanh Hóa | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ------------------- Bản án số: 11/2018/HN&GĐ-ST Ngày 25/01/2018 V/v:“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
------------------------------------------
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Lường Thị Hoa
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Minh Hùng
2. Bà Trịnh Thị Loan
Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Nga – Thư ký Toà án nhân dân huyện Hoằng Hòa, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa: Không
Ngày 25 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hoằng Hóa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 280/2017/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2017 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2017/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2017 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Thiều Thị Phương M, Sinh năm 1981.
Địa chỉ: thôn Ng 1, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa
2. Bị đơn: Anh Lương Tuyên H, Sinh năm 1981.
Địa chỉ: thôn Ng 1, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hoá.
Tại phiên tòa hôm nay có mặt chị M, vắng mặt anh H.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 31/10/2017, bản tự khai và lời trình bày tại phiên tòa sơ thẩm của nguyên đơn chị Thiều Thị Phương M thể hiện như sau:
Chị M kết hôn với anh Lương Tuyên H vào năm 2000 trên cơ sở tự nguyện, có giấy chứng nhận kết hôn do UBND xã L, huyện H cấp. Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc bình thường cho đến năm 2005 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do anh H không chịu tu chí làm ăn, suốt ngày rượu chè, say xỉn nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau rồi dẫn đến xảy ra xô sát. Chị M chán nản nên đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở từ tháng 10/2017 cho đến nay. Nay chị M xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng được ly hôn.
Về con: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Lương Trung H, sinh ngày 17/7/2001 và cháu Lương Bình A, sinh ngày 21/11/2002. Hiện nay các cháu đang ở với chị M, nay ly hôn nguyện vọng của chị M là muốn được nuôi con và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Theo bản tự khai của anh Lương Tuyên H ngày 10/11/2017 thể hiện như sau:
Anh và chị M kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có giấy chứng nhận kết hôn do UBND xã L cấp. Sau khi cưới vợ chống sống hạnh phúc cho đến thời gian gần đây thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do trong sinh hoạt hàng ngày nên cô Mai và các con đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở được hơn một tháng nay. Nay cô M làm đơn xin ly hôn tôi xét thấy tình cảm vẫn còn, nếu cô M cương quyết xin ly hôn thì tôi cũng phải chấp nhận.
Về con: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Lương Trung H, sinh ngày 17/7/2001 và cháu Lương Bình A, sinh ngày 21/11/2002. Hiện nay các cháu đang ở với cô M, nếu phải ly hôn thì nguyện vọng của anh H là muốn được nuôi cháu H.
Về tài sản: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 27/12/2017 Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, anh H vắng mặt không có lý do nên Tòa án đã Quyết định hoãn phiên Tòa, ấn định thời gian mở lại phiên tòa. Quyết định hoãn phiên tòa được giao cho gia đình anh H và niêm yết công khai tại UBND xã L.
Tại phiên tòa hôm nay anh H vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó Tòa án căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa nguyên đơn không có sự thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ về yêu cầu khởi kiện và các bên không thỏa thuận với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về hôn nhân: Chị Thiều Thị Phương M và anh Lương Tuyên H kết hôn trên cơ sở tự nguyện được Uỷ ban nhân dân xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn, như vậy về hôn nhân giữa chị M và anh H là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được 5 năm thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh H hàng ngày say xỉn, không chịu tu chí làm ăn, không quan tâm chăm sóc gia đình dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, chị M không chịu được áp lực nên đã đưa con về nhà bố mẹ đẻ ở từ tháng 10 năm 2017 cho đến nay. Chị M xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn. Anh H có nguyện vọng đoàn tụ nhưng nếu chị M cương quyết xin ly hôn thì anh cũng chấp nhận. Như vậy, chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị M và anh H đã đến mức trầm trọng đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị M là phù hợp với tình trạng thực tế hôn nhân giữa chị M và anh H hiện nay.
Về con: Chị M và anh H thống nhất vợ chồng có 02 con chung là cháu Lương Trung H, sinh ngày 17/7/2001 và cháu Lương Bình A, sinh ngày 21/11/2002. Nay ly hôn thì nguyện vọng của anh H là muốn được nuôi cháu Lương Trung H, nguyện vọng của cháu H và cháu A đều mong muốn được ở với mẹ. Chị M có nguyện vọng muốn được nuôi cả hai cháu và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét nguyện vọng được nuôi con của anh H: Mặc dù anh H có nguyện vọng được nuôi con nhưng hiện nay anh không có mặt tại địa phương, từ trước đến nay anh ít quan tâm chăm sóc đến các con, đồng thời cả hai cháu đều có nguyện vọng là muốn được ở với mẹ nên giao các cháu cho chị M trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị M không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.
Về tài sản: Hai bên không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Khoản 1 Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 về án phí, lệ phí Toà án.
Xử:
[1].Về hôn nhân: Xử cho chị Thiều Thị Phương M được ly hôn anh Lương Tuyên H.
[2].Về con: Công nhận cháu Lương Trung H, sinh ngày 17/7/2001 và cháu Lương Bình A, sinh ngày 21/11/2002 là con chung của chị Thiều Thị Phương M và anh Lương Tuyên H. Giao cho chị M trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Lương Trung H và cháu Lương Bình A. Anh H có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở nhưng anh H cũng không được lạm dụng quyền thăm con để gây ảnh hưởng đến cuộc sống riêng của chị M. [3].Về cấp dưỡng nuôi con: Chị M không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.
[4]. Về án phí: Chị Thiều Thị Phương M chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 5848 ngày 31/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa (chị M đã thi hành xong).
Chị M được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, anh H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa - VKSND huyện Hoằng Hóa. - Chi cục THADS huyện Hoằng Hóa. - UBND xã - Các đương sự - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ toạ phiên tòa (Đã ký) Lƣờng Thị Hoa |