- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Kiện đòi nợ"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Buộc bà Nguyễn Thị V phải trả nợ cho bà Trương Thị L số tiền 80.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU-NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2018/DSST Ngày: 26 - 6 - 2018 V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Đóa.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ngô Đình Hải.
2. Ông Hồ Đức Vĩ
- Thư ký phiên Tòa: Ông Hồ Diên Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện VKS nhân dân huyện Quỳnh Lưu tham gia phiên tòa: Không.
Ngày 26 tháng 6 năm 2018, tại hội trường Tòa án huyện Quỳnh Lưu, xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 35/2018/TLST- DS ngày 14/5/2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2018/QĐXXST - DS ngày 13 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ba Trương Thị L, sinh năm 1962 - Có mặt
Nơi cư trú: Xóm 3, xã Q, huyện Q, tỉnh N.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1963. Có đơn xin vắng mặt
Nơi cư trú: Xóm 3, xã Q, huyện Q, tỉnh N
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 14/3/2018 và bản tự khai ngày 21/5/2018 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Trương Thị L trình bày: Bà L với bà Nguyễn Thị V là hàng xóm thân cận hay giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau, nên vào ngày 10/5/2016 bà V đã nhờ bà L mang Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất thế chấp vay vốn Ngân hàng cho bà V vay. Ngày 15/5/2016 bà L được Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn giải ngân cho vay số tiền 80.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền vay vốn của Ngân hàng thì bà Trương Thị L đã cho bà Nguyễn Thị V vay số tiền 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng). Khi nhận tiền, bà V có hẹn bằng miệng đến ngày 15/5/2017 sẽ trả tiền gốc và tiền lãi theo Ngân hàng cho bà L để bà L trả cho Ngân hàng. Ngày 27/02/2017 bà V thông báo vỡ nợ, bà L đã đến nhà bà V hỏi nợ số tiền trên thì bà V có khất nợ và nói khi nào bán nhà và đất sẽ trả nợ cả tiền gốc và tiền lãi suất cho bà L để bà L trả cho Ngân hàng. Bà L đã nhiều lần yêu cầu bà V trả nợ nhưng bà V không trả, nên bà L đã làm đơn yêu cầu UBND xã Quỳnh Thạch buộc bà V phải trả số tiền trên. Ngày 30/3/2017 UBND xã Quỳnh Thạch đã mời bà V cùng với các hộ dân mà bà V đã vay nợ để làm việc thì bà V đã thừa nhận các khoản nợ, nạp danh sách vay nợ của các hộ dân và nạp đơn trình bày sự việc vay nợ đồng thời nhờ UBND xã bán nhà và Đất để trả cho các hộ dân. Nhưng đến nay bà V cũng chưa bán nhà và đất để trả nợ cho bà L. Nay bà L yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị V phải trả cho bà số tiền gốc đã vay là 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng) và bà không yêu cầu bà V phải trả tiền lãi suất.
Tại bản tự khai đề ngày 28/5/2018 bà Nguyễn Thị V trình bày: Vào ngày 15/5/2016 bà có vay của bà Trương Thị L, sinh năm 1962 ở xóm 3, xã Q, huyện Q, tỉnh N số tiền 80.000.000 đồng. Khi vay không có giấy tờ gì, chỉ thỏa thuận bằng miệng. Từ khi vay cho đến nay bà V chưa trả được tiền gốc, tiền lãi suất. Bà L đã đòi nợ bà V nhiều lần nhưng bà V không trả được. Nay bà L yêu Tòa án giải quyết buộc bà V phải trả 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng) tiền gốc vay; bà L không yêu cầu tiền lãi, bà V đồng ý trả cho bà L. Hiện nay bà V đang bị tạm giam trong vụ án hình sự nên đề nghị Tòa án tiến hành tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử vắng mặt bà.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ, được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định.
Về tố tụng: Bà Trương Thị L khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị V trả lại số tiền đã vay, người bị kiện là bà Nguyễn Thị V có địa chỉ cư trú trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu nên đây là vụ án tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu theo quy định tại các Điều 26, 35,39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn bà Nguyễn Thị V nhưng hiện tại bà V đang bị tạm giam nên không thể tham gia phiên tòa, bà V đã có đơn xin xét xử vắng mặt, không có yêu cầu phản tố. Do đó cần áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, 228 BLTTDS xét xử vắng mặt bị đơn bà Nguyễn Thị V.
Về nội dung:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ và quá trình tranh tụng tại phiên tòa có đủ cơ sở để xác định: Bà Trương Thị L cho bà Nguyễn Thị V vay nợ với số tiền 80.000.000 đồng. Khi vay hai bên có thỏa thuận miệng với nhau về thời gian trả tiền gốc lãi suất theo lãi suất của Ngân hàng, thời hạn vay từ ngày 15/5/2016 đến ngày 15/5/2017 được bà V thừa nhận.
Nay bà V nhất trí trả nợ cho bà Trương Thị L số tiền 80.000.000 đồng. Vì vậy, có đủ căn cứ để buộc bà Nguyễn Thị V trả nợ cho bà Trương Thị L số tiền 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng).
Về lãi suất: Bà Trương Thị L không yêu cầu tiền lãi suất nên miễn xét.
Về án phí: Do yêu cầu của bà Trương Thị L được chấp nhận nên bà L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Các Điều 463, 466, 470 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Buộc bà Nguyễn Thị V phải trả nợ cho bà Trương Thị L số tiền 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng).
Án phí: Bà Nguyễn Thị V phải nộp 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả lại cho bà Trương Thị L 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001656 ngày 11/5/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Quỳnh Lưu; - THADS huyện Quỳnh Lưu; - Lưu HS, VP. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Phan Thị Đóa |