vanban.org

Bản án 11/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy A;

[1] Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Thúy A được ly hôn với anh Nguyễn Văn M; [2] Về con chung: Tiếp tục giao con chung tên Nguyễn Xuân Ánh N, sinh ngày 12/11/2013 cho chị Nguyễn Thị Thúy A nuôi dưỡng, anh M không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị A không yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa chị Nguyễn Thị Thúy A với anh Nguyễn Văn M"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy A;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIỂU CẦN
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 25/12/2017
Về tranh chấp ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Long

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Bé

Bà Trang Thị Cẩm Nhuần

Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Nhi - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.

Ngày 25 tháng 12 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân thụ lý số: 15/2017/TLST- HNGĐ, ngày 06 tháng 10 năm 2017, về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2017/QĐST-HNGĐ, ngày 22 tháng 11 năm 2017, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy A, sinh năm 1992 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Khóm 10, phường 7, thành phố T, tỉnh T.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1993 (vắng mặt không lý do)

Địa chỉ: Khóm 6, thị trấn C, huyện T, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 03/10/2017, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy A trình bày: Vào ngày 05/9/2013, chị và anh Nguyễn Văn M xác lập quan hệ vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện T, tỉnh T. Trong quá trình chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Xuân Ánh N, sinh ngày 12/11/2013, hiện con chung đang sống với chị A.

Tài sản chung, nợ chung: không có.

Nguyên nhân mâu thuẫn: Thời gian đầu, vợ chồng chung sống rất hạnh phúc. Đến tháng 11 năm 2015 thì vợ chồng thường xuyên cải vả với nhau. Tháng 2 năm 2016 thì chị A bỏ về nhà cha mẹ ruột ở khóm 10, phường 7, thành phố T, tỉnh T sống, còn anh M thì về nhà cha mẹ ở khóm 6, thị trấn C, huyện T, tỉnh T sống, từ đó không còn quan tâm tới nhau nữa. Chị A nhận thấy vợ chồng có nhiều mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, nên chị A xin ly hôn với anh M.

Nay, chị Nguyễn Thị Thúy A yêu cầu:

Về hôn nhân: Xin được ly hôn với anh Nguyễn Văn M.

Về tài sản, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về con chung: Yêu cầu được nuôi con chung tên Nguyễn Xuân Ánh N, không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con chung.

Tại bản tự khai ngày 15/9/2017, anh Nguyễn Văn M trình bày: Thống nhất về thời gian kết hôn, con chung, tài sản chung, nợ chung và mâu thuẫn vợ chồng như chị A trình bày. Anh M đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị A, đồng ý giao cháu N cho chị A nuôi dưỡng, anh không phải cấp dưỡng nuôi con do chị A không yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Do chị Nguyễn Thị Thúy A có đơn xin xét xử vắng mặt và anh Nguyễn Văn M vắng mặt không có lý do, nên Tòa án căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị A và anh M.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy A và anh Nguyễn Văn M xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện T, tỉnh T theo đúng quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; nên hôn nhân của anh, chị là hợp pháp. Sau kết hôn, vợ chồng sống với nhau có 01 con chung là thể hiện một gia đình hạnh phúc. Tuy nhiên, hạnh phúc của anh chị không bền vững là do anh, chị bất đồng trong cuộc sống, thường xuyên cải vả, cả hai người đều bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống, không còn quan tâm gì với nhau. Xét thấy tình nghĩa vợ chồng của anh M và chị A thiếu tình yêu thương, sự quan tâm, chăm sóc nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, từ đó có cơ sở chấp nhận cho chị A được ly hôn với anh M là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Xuân Ánh N cho chị A nuôi dưỡng, anh M không phải cấp dưỡng nuôi con chung, do chị A không yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung :Chị Nguyễn Thị Thúy A và anh Nguyễn Văn M thống nhất khai không có, nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28; Điều 35, 39, 227, 273, 280 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy A;

[1] Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Thúy A được ly hôn với anh Nguyễn Văn M;

[2] Về con chung: Tiếp tục giao con chung tên Nguyễn Xuân Ánh N, sinh ngày 12/11/2013 cho chị Nguyễn Thị Thúy A nuôi dưỡng, anh M không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị A không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không đặt ra giải quyết.

[4] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thúy A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0011627, ngày 06/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh, nên chị A không phải nộp nữa.

[5] Quyền kháng cáo: Nguyên, bị đơn đều vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ tại nơi cư trú để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.

Cỡ chữ