vanban.org

Bản án 11/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, cho anh Nông Văn L được ly hôn với người bị tuyên bố là mất tích là chị Lâm Thị H.

Về con chung: Giao con chung là cháu Nông Thành H sinh ngày 23/12/2008 cho anh Nông Văn L được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi, chị Lâm Thị H không phải trả tiền cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền đi lại thăm hỏi con chung không ai được ngăn cản. Về tài sản chung, vay nợ ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn với người bị tuyên bố mất tích"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, cho anh Nông Văn L được ly hôn với người bị tuyên bố là mất tích là chị Lâm Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_____________
Bản án số: 11/2017/HNGĐ-ST
Ngày 24 - 11 - 2017
V/v ly hôn, nuôi con chung
với người bị tuyên bố mất tích.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Xuân Tĩnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Doãn Thắng

Bà Nông Thị Ái Vân

- Thư ký phiên toà: Ông Ngô Nam Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia tham gia phiên toà: Bà Hà Xuân Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn xét xử công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số: 54/2017/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2017 về tranh chấp Ly hôn, nuôi con chung với một người bị tuyên bố mất tích, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2017/QĐXX-ST ngày 09 tháng 11 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nông Văn L - Sinh năm 1987; địa chỉ thôn V, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

2. Bị đơn: Chị Lâm Thị H - Sinh năm 1990; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng thôn V, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt, do đã bị tuyên bố mất tích.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn ngày 10/10/2017, bản tự khai ngày 17/10/2017 và tại phiên tòa anh Nông Văn L trình bày: Anh và chị Lâm Thị H trước khi cưới có được tự tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn ngày 04/11/2008 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.

Trước khi đăng ký kết hôn anh Nông Văn L và chị Lâm Thị H đã có quan hệ vợ chồng và có thai và ngày 23/12/2008 đã sinh một người con chung là Nông Thành H, sau khi sinh con vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn, sau đó do bất đồng về cách sống, thường xảy ra cãi nhau và anh Nông Văn L không rõ lý do vì sao chị Lâm Thị H tự bỏ nhà, bỏ con đi từ tháng 9/2012, anh và gia đình đã tìm kiếm nhưng đến tháng 4/2017 vẫn không có tin tức gì. Do vậy anh Nông Văn L đã yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bình Gia tuyên bố chị Lâm Thị H mất tích. Tại quyết định số 01/2017/QĐDS-ST ngày 14/8/2017 của Tòa án nhân dân huyện Bình Gia đã tuyên bố chị Lâm Thị H mất tích. Vì vậy, anh Nông Văn L đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với người mất tích là chị Lâm Thị H theo luật định.

Về con chung, có một con chung là cháu Nông Thành H sinh ngày 23/12/2008, hiện con đang học lớp 4 ở cùng anh Nông Văn L, nên anh yêu cầu được chăm sóc và nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết; về vay nợ anh Nông Văn L cam kết không có vay nợ chung.

Về phía bị đơn: Chị Lâm Thị H đã bị Tòa án tuyên bố mất tích từ tháng 8 năm 2017; căn cứ giấy xác nhận của Công an xã H, huyện B ngày 06/11/2017 thì hiện tại đến thời điểm anh Nông Văn L yêu cầu ly hôn, chị Lâm Thị H vẫn không có mặt tại địa phương, vì vậy không có tài liệu, chứng cứ của phía bị đơn. Tòa án căn cứ vào tài liệu chứng cứ nguyên đơn cung cấp, và các căn cứ của pháp luật để xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa hôn nay, anh Nông Văn L vẫn giữ yêu cầu xin được ly hôn và nhận quyền trực tiếp nuôi con chung cho đến khi đủ 18 tuổi.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát có ý kiến: Quá trình tiến hành tố tụng Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đương sự được bảo đảm đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình đúng luật định và không có kiến nghị gì. Về nội dung đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn; giao con chung cho anh Nông Văn L nuôi dưỡng, theo quy định tại khoản 1 Điều 53, khoản 2 Điều 56 và Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và anh Nông Văn L phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý là đúng thẩm quyền; do chị Lâm Thị H bị tuyên bố mất tích nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải được, chỉ mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại các Điều 207, 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nông Văn L với chị Lâm Thị H có thời gian chung sống vợ chồng, có đăng ký kết hôn ngày 04/11/2008 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện B đúng luật định, nên quan hệ vợ chồng được pháp luật thừa nhận. Lý do anh Nông Văn L xin ly hôn là do chị Lâm Thị H đã bị Tòa án tuyên bố là mất tích. Căn cứ quyết định số 01/2017/QĐDS-ST ngày 14/8/2017 của Tòa án nhân dân huyện Bình Gia đã tuyên bố chị Lâm Thị H mất tích, quyết định này đã có hiệu lực pháp luật và đến ngày Tòa án mở phiên tòa xét xử hôm nay chị Lâm Thị H vẫn vắng mặt tại nơi cứ trú. Do vậy, căn cứ khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho anh Nông Văn L được ly hôn với người mất tích là chị Lâm Thị H là có căn cứ pháp luật.

Về con chung: Xác định hai vợ chồng hiện chỉ có một con chung là cháu Nông Thành H sinh ngày 23/12/2008, do chị Lâm Thị H hiện bị mất tích nên cần giao cho anh Nông Văn L trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung cho đến khi đủ 18 tuổi. Chị Lâm Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền đi lại thăm mon con chung theo luật định.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh Nông Văn L không yêu cầu Tòa án xem xét về tài sản chung, và cam kết không có vay nợ chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Anh Nông Văn L phải chịu 300.000đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm sung công quỹ quỹ nhà nước. Được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng tiền tạm ứng án phí anh Nông Văn L đã nộp.

Nguyên đơn, bị đơn đều có quyền kháng cáo bản án theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 53, khoản 2 Điều 56 và Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, cho anh Nông Văn L được ly hôn với người bị tuyên bố là mất tích là chị Lâm Thị H.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Nông Thành H sinh ngày 23/12/2008 cho anh Nông Văn L được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi, chị Lâm Thị H không phải trả tiền cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền đi lại thăm hỏi con chung không ai được ngăn cản.

3. Về tài sản chung, vay nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung; không có vay nợ chung.

4. Về án phí: Buộc anh Nông Văn L phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm sung công quỹ nhà nước. Được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng tiền tạm ứng án phí anh Nông Văn L đã nộp tại biên lai số AA/2012/ 02390 ngày 12/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.

Anh Nông Văn L có mặt được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; chị Lâm Thị H vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết bản án theo luật định./.

Cỡ chữ