- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thỏa thuận của anh Nguyễn Văn Q và chị Nguyễn Phương T; Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 07/2017/HNGĐ-ST ngày 28/3/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Chí Linh.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2017/HNGĐ-PT. Ngày: 24-8-2017 "V/v thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Tuyển.
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Mạnh Cường và bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Công – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân (Viết tắt là TAND) tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 06/2017/TLPT-HNGĐ ngày 15/5/2017 về việc “thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn”. Do bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 07/2017/HNGĐ-ST ngày 28/3/2017 của TAND thị xã Chí Linh bị kháng cáo và kháng nghị. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 11/2017/QĐXX-PT ngày 14/7/2017 giữa:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1983.
Địa chỉ hiện nay: Số 147 phố D, phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương – Có mặt.
2. Bị đơn: Chị Nguyễn Phương T, sinh năm 1988.
Địa chỉ hiện nay: Số 60 phố T, khu dân cư N2, phường S, thị xã C, tỉnh Hải Dương – Có mặt.
3. Người kháng cáo: Bị đơn – chị Nguyễn Phương T.
4. Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm số 07/2017/HNGĐ-ST ngày 28/3/2017 của TAND thị xã Chí Linh, vụ án có nội dung tóm tắt như sau:
Anh Nguyễn Văn Q và chị Nguyễn Phương T kết hôn vào năm 2012 và có hai con chung là Nguyễn Quang T, sinh ngày 26/6/2013 và Nguyễn Thảo P, sinh ngày 10/11/2014. Năm 2015, anh Q và chị T ly hôn theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương và T được giao nuôi dưỡng hai con chung, anh Q có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng. Ngày 01/8/2016, anh Q làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung, đề nghị được nuôi con chung Nguyễn Quang T.
Theo anh Q: Từ khi ly hôn, anh thường xuyên đến thăm nom con và thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị T. Cháu T hiện nay đã trên ba tuổi và có tình cảm gần gũi với bố. Chị T đang làm xa nhà, thu nhập thấp nên không đủ điều kiện nuôi dưỡng cả hai con chung. Còn anh, hiện đang làm việc tại công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại và dịch vụ ATC ở phường Lê Thanh Nghị, thành phố Hải Dương, thu nhập bình quân khoảng 9.000.000 đồng/tháng, anh đang ở cùng bố mẹ đẻ đã nghỉ hưu và cũng có nguyện vọng được hỗ trợ anh nuôi cháu T.
Theo chị T: Từ khi ly hôn đến nay, chị trực tiếp nuôi dưỡng các con chung khôn lớn, phát triển khỏe mạnh bình thường. Năm 2015, anh Q thường đến thăm con và cấp dưỡng nuôi con đầy đủ nhưng đến năm 2016, anh Q chỉ đến thăm con một lần và cấp dưỡng được 6.000.000 đồng. Nay anh Q xin thay đổi người trực tiếp nuôi con chung, chị không đồng ý vì anh Q thường đi làm công trình xa nhà, không có thời gian chăm sóc con. Hai con chung còn nhỏ tuổi rất cần ở với mẹ, các cháu đang sống ổn định gắn bó với nhau. Chị đủ điều kiện nuôi cả 2 con vì chị đã có nhà đất riêng do bố mẹ tặng cho, chị làm tại công ty may Tinh Lợi ở khu công nghiệp Lai Vu, huyện Kim Thành thu nhập bình quân hàng tháng từ 4.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng, ngoài ra bố mẹ đẻ chị hàng tháng cho chị 2.000.000 đồng và hỗ trợ chị chăm sóc cháu.
Tại Bản án số 07/2017/HNGĐ-ST ngày 28/3/2017, TAND thị xã Chí Linh đã quyết định: Áp dụng Điều 71, 81, 82, 83, điểm b khoản 2 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; xử chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn Q về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn, giao cho anh Nguyễn Văn Q trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Quang T, sinh ngày 26/6/2013, giao cho chị Nguyễn Phương T trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Thảo P, sinh ngày 10/11/2014, các bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 07/4/2017, chị T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung của anh Q.
Ngày 11/4/2017, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt là VKSND) thị xã Chí Linh kháng nghị đề nghị cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm của TAND thị xã Chí Linh do cấp sơ thẩm đã giải quyết vượt quá phạm vi khởi kiện khi các đương sự chỉ yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con nhưng bản án sơ thẩm giải quyết cả phần cấp dưỡng nuôi con chung; bản án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Thành là không có căn cứ vì chị T có đầy đủ điều kiện chăm sóc cả hai con chung, cháu Thành, cháu Phương hiện còn nhỏ và từ khi sinh ra đều ở với mẹ nên để chị T tiếp tục nuôi cả hai con chung là phù hợp.
Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Q và chị T thỏa thuận giao cả hai con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh Q cấp dưỡng nuôi 02 con cùng chị T là 2.000.000 đồng/tháng, từ tháng 8/2017 đến khi mỗi con đủ 18 tuổi và chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm, án phí về cấp dưỡng nuôi con; chị T cam kết không gây khó khăn cho anh Q trong việc thăm nom con chung. Đại diện VKSND tỉnh Hải Dương rút kháng nghị, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm công nhận sự thỏa thuận của anh Q và chị T, đề nghị giải quyết về án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Nguyễn Văn Q và chị Nguyễn Phương T đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, cụ thể giao cho chị Nguyễn Phương T tiếp tục nuôi dưỡng hai con chung là cháu Nguyễn Quang T, sinh ngày 26/6/2013 và Nguyễn Thảo P, sinh ngày 10/11/2014; anh Q cấp dưỡng nuôi 02 con cùng chị T là 2.000.000 đồng/tháng, từ tháng 8/2017 đến khi mỗi con đủ 18 tuổi và chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm, án phí về cấp dưỡng nuôi con. Việc thỏa thuận của anh Q và chị T là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội nên HĐXX căn cứ vào Điều 300 Bộ luật tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm số 07/2017/HNGĐ-ST ngày 28/3/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Chí Linh và công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm.
Về án phí: Anh Q tự nguyện nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm và án phí về cấp dưỡng nuôi con. Chị T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ vào Điều 300 Bộ luật tố tụng dân sự;
QUYẾT ĐỊNH:
Công nhận sự thỏa thuận của anh Nguyễn Văn Q và chị Nguyễn Phương T; Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 07/2017/HNGĐ-ST ngày 28/3/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Chí Linh.
Áp dụng các Điều 71, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội.
Giao cho chị Nguyễn Phương T trực tiếp nuôi 02 con chung là Nguyễn Quang T, sinh ngày 26/6/2013 và Nguyễn Thảo P, sinh ngày 10/11/2014.
Anh Nguyễn Văn Q có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung hàng tháng cùng chị T là 2.000.000 (Hai triệu) đồng kể từ tháng 08/2017 đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi và được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được phép ngăn cản.
Về án phí:
Anh Nguyễn Văn Q phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 200.000 đồng và án phí cấp dưỡng nuôi con chung là 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AB/2014/0000417 ngày 04/8/2016 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Chí Linh, anh Q còn phải nộp 300.000 đồng.
Chị Nguyễn Phương T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng, đối trừ với số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AB/2014/0003056 ngày 11/4/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Chí Linh, chị T đã nộp đủ án phí.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (24/8/2017).
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - TAND thị xã Chí Linh; - Chi cục THA thị xã Chí Linh; - Các đương sự; - Lưu HS; lưu toà. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Phạm Văn Tuyển |