vanban.org

Bản án 10a/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 14/01/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 14/01/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 178, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 09 (chín) tháng tù về tội “Huỷ hoại tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/7/202…

Giao cho Ủy ban nhân dân xã Trù S, huyện Đô L, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục bị cáo Nguyễn Văn H trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp v i Ủy ban nhân dân xã Trù Sơn trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Bị cáo phải chấp hành nghĩa vụ của người được hưởng án treo. Tron… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 178, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 09 (chín) tháng tù về tội “Huỷ hoại tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/7/202…
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10a/2022/HS-PT
Ngày: 14-01-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quốc Sơn

Các Thẩm phán: Ông Ngô Sỹ Tiến; bà Nguyễn Thị Hải Minh

Thư ký phiên toà: Ông Lê Viết Ngọc – Thẩm tra viên, Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 239/2021/TL T-HS ngày 28/10/2021 đối v i bị cáo Nguyễn Văn H do có kháng cáo của bị hại -ông hạm Bá G đối v i Bản án hình sự sơ thẩm số 68/2021/HS-ST ngày 29/7/2021 của Toà án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

B cáo b kháng cáo:

Nguyễn Văn H; Tên gọi khác: Không; sinh ngày 22/6/1984 tại xã Trù Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm 6, xã Trù S, huyện Đô L, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Không biết chữ; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; gi i tính: Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Đào Thị T; vợ, con chưa có; tiền sự, tiền án: không; nhân thân: Ngày 01/01/2006, bị Công an huyện Đô Lương xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Gây mất trật tự nơi công cộng khu vực thôn xóm”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/5/2021 đến ngày 12/5/2021 được cho tại ngoại; có mặt tại phiên toà.

Người bào chữa cho b cáo Nguyễn Văn Hân:

Bà Trần Thị Thu H - Trợ giúp viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nư c tỉnh Nghệ An. Có mặt

B hại có kháng cáo: Ông Phạm Bá G, sinh năm 1951; có mặt.

B hại không có kháng cáo: Bà Phạm Thị M, sinh năm 1950; có mặt.

Đều có địa chỉ: Xóm 6, xã Trù Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho b hại Phạm Bá G:

Ông Phạm Bá Quản, sinh năm 1958; Địa chỉ: xóm 4, xã Trù Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An; có mặt

Ông Lê Văn Lý, trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nư c tỉnh Nghệ An; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo:

1. Nguyễn Văn H, sinh năm 1989; có mặt

2. Nguyễn Thị T, sinh năm 1974; có mặt

3. Nguyễn Thị L, sinh năm 1976; có mặt

4. Nguyễn Thị H, sinh năm 1978; có mặt

5. Nguyễn Thị H, sinh năm 1981; có mặt

Đều có địa chỉ: xóm 6, xã Trù Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

Người làm chứng:

1. Nguyễn Văn N, sinh năm 1961; có mặt

2. hạm Bá D, sinh năm 1977; có mặt

3. Phạm Thị N, sinh năm 1965; có mặt

4. Phạm Thị T, sinh năm 1968; có mặt

Đều có địa chỉ: xóm 6, xã Trù Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do bức xúc sự việc vào ngày 07/4/2021, ông hạm Bá G có hành vi gây thương tích đối v i ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1950 (ông Tùng là bố đẻ của Nguyễn Văn H) nên khoảng 08 giờ 30 phút ngày 08/4/2021, Nguyễn Văn H, sinh ngày 22/6/1984, trú tại xóm 6 xã Trù Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An một mình điều khiển xe mô tô, hiệu Rubi Thái"S, màu đỏ - đen, biển số 37Z4-7913(chiếc xe này là của anh Nguyễn Văn H, em trai của H), kéo theo xe tự chế (loại xe bi của gia đình H) đi đến khu vực trư c c ng trường cấp 2 xã Trù Sơn, Hân nhặt một xe chở đầy đá vôi (đá lèn), loại đá kích thư c (4x6)cm. Sau đó H điều khiển chiếc xe mô tô chở đầy đá vôi này đến nhà ông hạm Bá G. Lúc này vào khoảng 10 giờ ngày 8/4/2021, H dừng xe trư c c ng ông Giảng rồi lấy đá (chở đến) dùng tay ném lên mái ngói nhà chính, mái ngói nhà ngang, mái tôn trư c nhà chính và trong nhà chính của nhà ông G v i khoảng cách 10m tính từ ch Hân đứng đến các vị trí bị ném đá. Hậu quả nhà ông hạm Bá G bị hỏng hoàn toàn các tài sản gồm: 01 (một) đồng hồ treo tường hiệu Qurtz; 01 (một) lọ hoa bằng sứ; 01 (một) bức thọ hình chữ nhật kích thư c (56x156)cm; 01 (một) tấm tôn lạnh, kích thư c (400x110)cm; 09 (chín) viên ngói dập; 255 (hai trăm năm mươi lăm) viên ngọa (ngói âm); 348 (Ba trăm bốn mươi tám) viên ngói vảy. Trong lúc H đang ném đá vào nhà ông G thì có Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị H, là em trai và các chị gái của H đến đứng phía trư c c ng nhà ông G có hành vi chửi b i, xúc phạm ông G v i nội dung "Thằng G, mày lên mà nuôi cha tau". Việc H ném đá, các chị, em của H chửi b i tại nhà ông G diễn ra trong khoảng thời gian từ 10 giờ đến 10 giờ 30 phút ngày 8/4/2021. Khi lực lượng Công an xã Trù Sơn đến làm việc thì các đối tượng ra về.

Ngoài ra trong quá trình H ném đá còn trúng vào cùi tay trái, tay phải của ông hạm Bá Giảng gây chảy máu nhưng ông G từ chối giám định thương tích và không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

Ngày 6/5/2021 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương đã tiến hành Lệnh bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối v i Nguyễn Văn H và tiến hành thu giữ các vật chứng có liên quan đến vụ án. Tuy nhiên còn 01 (một) xe tự chế (loại xe bi), khung bằng kim loại, hình hộp, kích thư c (100x150x20) cm, có hai bánh lốp phía dư i. Vào ngày 06/5/2021, Nguyễn Văn H đã đem ra chở cỏ và để quên ở bờ bàu Hội cách nhà khoảng 300m đến ngày 13/5/2021 phát hiện bị mất trộm, anh H đã trình báo v i Công an xã Trù Sơn nên không thu giữ được.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 13 ngày 09/5/2021 của Hội đồng định giá trong Tố tụng thuộc Hội đồng định giá UBND huyện Đô Lương kết luận: 01 (một) đồng hồ treo tường hiệu Qurtz, hình tròn đường kính 30cm, mặt kính, mặt bên trong màu trắng, viền ngoài bằng nhựa màu đỏ, có giá trị 100.000đ (Một trăm ngàn đồng); 01 (một) lọ hoa bằng sứ, màu xanh, cao 20cm, ch rộng nhất 10cm, có giá trị 30.000đ (Ba mươi ngàn đồng); 01 (một) bức thọ hình chữ nhật kích thư c (56x156)cm, nền màu đỏ, chữ húc-Lộc-Thọ màu vàng, có giá trị 1.000.000đ (Một triệu đồng); 01 (một) tấm tôn lạnh, kích thư c (400x110)cm, mặt trên màu xanh đậm, mặt dư i màu bạc, có giá tri 484.000đ (Bốn trăm tám mươi bốn ngàn đồng); 09 (chín) viên ngói dập, màu vàng - đen, có giá trị 40.500đ (Bốn mươi ngàn, năm trăm đồng); 255 (hai trăm năm mươi lăm) viên ngọa (ngói âm), màu vàng nhạt, có giá trị 331.500đ (Ba trăm ba mư i mốt ngàn, năm trăm đồng); 348 (Ba trăm bốn mươi tám) viên ngói vảy, màu vàng - đen, có giá trị 522.000đ (Năm trăm hai mươi hai ngàn đồng). T ng giá trị thiệt hại về tài sản bị hủy hoại của ông hạm Bá Giảng từ hành vi của Nguyễn Văn Hân đã thực hiện là 2.508.000đ (Hai triệu, năm trăm lẻ tám ngàn đồng).

Về vật chứng: Trong quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Đô Lương đã thu giữ: 01 (một) đồng hồ treo tường hiệu Qurtz, hình tròn đường kính 30cm, mặt kính, mặt nên bên trong màu trắng, viền ngoài bằng nhựa màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) lọ hoa bằng sứ, màu xanh, cao 20cm, ch rộng nhất 10cm, đã qua sử dụng; 01 (một) bức thọ hình chữ nhật kích thư c (56x156)cm, nền màu đỏ, chữ húc-Lộc-Thọ màu vàng, đã qua sử dụng; 01 (một) xe môtô hiệu Rubi Thái"S, màu đỏ - đen, biển số 37Z4-7913, không kiểm tra máy móc bên trong, đã qua sử dụng; 45 (bốn lăm) viên đá vôi (đá lèn), loại đá có kích thư c (4x6)cm; Đối v i 45 (bốn lăm) viên đá vôi (đá lèn), loại đá có kích thư c (4x6)cm hiện đang bảo quản tại kho vật chứng thuộc Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương; 01 (một) xe môtô hiệu Rubi Thái"S, màu đỏ - đen, biển số 37Z4-7913, không kiểm tra máy móc bên trong. Sau khi xác minh chủ sở hữu, đây là chiếc xe do Nguyễn Văn H mượn của Nguyễn Văn H (khi H dùng chiếc xe máy này chở đá thì anh H không biết) nên trả lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn H.

Các tài sản bị hư hỏng gồm: 01 (một) đồng hồ treo tường hiệu Qurtz, hình tròn đường kính 30cm, mặt kính, mặt nên bên trong màu trắng, viền ngoài bằng nhựa màu đỏ, 01 (một) lọ hoa bằng sứ, màu xanh, cao 20cm, ch rộng nhất 10cm; 01 (một) bức thọ hình chữ nhật kích thư c (56x156)cm, nền màu đỏ, chữ Phúc-Lộc-Thọ màu vàng ; 01 (một) tấm tôn lạnh, kích thư c (400x110)cm, mặt trên màu xanh đậm, mặt dư i màu bạc, 09 (chín) viên ngói dập, màu vàng - đen, 255 (hai trăm năm mươi lăm) viên ngọa (ngói âm), màu vàng nhạt, 348 (Ba trăm bốn mươi tám) viên ngói vảy, màu vàng - đen. Sau khi tiến hành định giá, xét thấy không ảnh hưởng đến quá trình điều tra nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại và giao cho ông cho ông hạm Bá Giảng bảo quản và xử lý.

Về phần dân sự: Ông hạm Bá G, sau khi thống kê các tài sản của mình bị hư hỏng đã yêu cầu Nguyễn Văn H bồi thường thiệt hại gồm: Ngói vảy là 1900 viên v i số tiền 1.500.00đ; Ngói ngọa 950 viên là 750.000đ; Tôn 9m2 là 1.080.000đ; Tôn diềm 01 tấm là 100.000đ; Đỉnh thờ 01 cái là 1.200.000đ; Bình hoa 01 cái là 105.000đ; Đồng hồ 01 cái là 120.000đ; Tiền công tu sửa là 3.000.000đ. T ng là 7.875.000đ (Bảy triệu tám trăm bảy mươi lăm nghìn đồng). Hiện Nguyễn Văn H chưa thực hiện được việc bồi thường theo yêu cầu của ông G.

V i nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 68/2021/HS-ST ngày 29/7/2021 của Toà án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Huỷ hoại tài sản”

Căn cứ vào khoản 1 Điều 178, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/7/2021).

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ thi hành án treo, án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 02/8/2021, bị hại ông hạm Bá G nộp đơn kháng cáo tại Tòa án v i nội dung: Bản án hình sự sơ thẩm số 68/2021/HS-ST ngày 29/7/2021 của Toà án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An đã bỏ lọt tội phạm.

Ngày 16/12/2021, bị hại ông hạm Bá G có đơn kháng cáo b sung v i nội dung: Yêu cầu cấp phúc thẩm huỷ Bản án sơ thẩm, điều tra xét xử lại vì có dấu hiệu làm sai lệch hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Không chấp nhận kháng cáo của bị hại - ông hạm Bá G, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 178, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 09 (chín) tháng tù về tội “Huỷ hoại tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/7/2021).

Bị hại ông hạm Bá G và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp có ý kiến tranh luận: Đề nghị HĐXX xem xét vấn đề kháng cáo bỏ lọt tội phạm của bị hại.

Về hình phạt: Mức án 09 tháng tù cho hưởng án treo đối v i bị cáo là quá nhẹ, đề nghị HĐXX xem xét không cho bị cáo hưởng án treo;

Về dân sự: Đề nghị bị cáo đền bù 128 triệu đồng; trong đó 100 triệu đồng là phần yêu cầu bù đắp t n thất tinh thần.

Bị cáo không có tranh luận v i quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Bị hại nộp đơn kháng cáo trong hạn luật định, nội dung đơn kháng cáo đúng quy định của pháp luật nên kháng cáo hợp lệ. Ngày 16/12/2021, bị hại có đơn kháng cáo b sung v i nội dung: Yêu cầu cấp phúc thẩm huỷ Bản án sơ thẩm, điều tra xét xử lại vì có dấu hiệu làm sai lệch hồ sơ vụ án. Xét kháng cáo và kháng cáo b sung của bị hại là đúng quy định pháp luật, Tòa án cấp phúc thẩm tiến hành xét xử vụ án.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Văn H khai và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Bản án sơ thẩm đã xét xử đối v i bị cáo. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an ninh trên địa bàn; do đó Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An đã xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 09 (chín) tháng tù về tội “Huỷ hoại tài sản“ nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/7/2021) là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét kháng cáo của bị hại - ông hạm Bá G về nội dung: Cấp sơ thẩm bỏ lọt tội phạm và có dấu hiệu làm sai lệch hồ sơ vụ án:

Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị hại ông hạm Bá G và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại đều cho rằng đây là vụ án phạm tội có t chức, có nhiều người tham gia huỷ hoại tài sản cùng v i bị cáo Nguyễn Văn H; đồng thời có dấu hiệu làm sai lệch hồ sơ vụ án.

Căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án thấy rằng: Vụ án chỉ có các nhân chứng là anh chị em của bị cáo H gồm Nguyễn Văn H, Nguyễn Đức Th, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị H và các em, vợ của bị hại hạm Bá G; ngoài ra không có nhân chứng nào khác. Căn cứ biên bản sự việc, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá tài sản số 13 ngày 09/5/2021; lời khai của những người làm chứng: Ông Nguyễn Văn N; lời khai của những người có quyền và nghĩa vụ liên quan đồng thời là những người làm chứng như Nguyễn Văn H, Nguyễn Đức T, Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị H. hù hợp v i lời khai bị cáo Nguyễn Văn H đều khai và thừa nhận việc ném đá vào nhà ông G chỉ do một mình bị cáo H thực hiện. Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Văn H phù hợp v i các tài liệu chứng cứ khác thu thập có tại hồ sơ vụ án. Tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm và tại phiên toà những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan liên quan đều khai nhận mục đích đến nhà ông Giảng là để chửi b i, xúc phạm ông hạm Bá G nên đã bị Cơ quan Công an huyện Đô Lương xử phạt hành chính về hành vi “Có lời nói thô bạo xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác” theo quy định tại điểm a khoản 1 Nghị định 167/2013/NĐ-C ngày 12/11/2013 của chính hủ.

Bản thân các nhân chứng khác là người thân của bị hại hạm Bá G như: Chị hạm Thị H, hạm Thị T (đều là em ông G); anh hạm Bá D (con ông G); bà Nguyễn Thị M (vợ ông G) thì có các lời khai khác nhau và mâu thuẫn v i nhau về sự việc xảy ra. Cụ thể: Lời khai anh hạm Bá D - Con trai ông Giảng:…khi đó, 6 người con của ông Tùng gồm H, H, Hạ, Ti, Li, Hòa đều từ ngoài đường đi vào. Trong đó, H và Hân tay cầm gậy dài 1,2m…cả 6 người dùng đá ném vào nhà ông Giảng có trúng ai ko thì tôi không biết. Tôi thấy anh H cầm gậy đập vào vai trái ông G (BL 153); lời khai của chị hạm Thị H (em ông G) Khi tôi đến thì sự việc đã xong. Tôi không thấy ai đánh ai, ai gây thương tích cho ai, ai ném đá cả và cũng không nghe nói gì cả (BL 118); Lời khai chị hạm Thị T (em ông G): Không nhìn thấy ai (ch em của b cáo H) vào nhà ông G cả (BL 120). Như vậy những lời khai này đều mâu thuẫn v i lời khai của anh hạm Bá Dũng;

Lời khai của bà Nguyễn Thị Mai (Vợ ông Giảng): Tôi chỉ biết anh H và anh H trực tiếp ném đá. (BL 147); Lời khai của bị hại hạm Bá G: “… Tôi ở trong nhà nghe thấy tiếng vỡ ngói, tôi ra ngoài thấy khoảng 30 người đang dùng đá ném vào nhà tôi, trong đó có các con của ông H. Tiếp đó, tôi thấy T, L, H, H cầm gậy đánh vào phần đất tại sân nhà tôi. Tiếp đó, ông Nuôi ngăn cản mọi người thì sự việc mới chấm dứt, bản thân tôi b thương tích ở đùi do b đá ném, còn lại không b thương gì thêm”. Như vậy, ông hạm Bá G bị thương do bị ném đá chứ không phải bị đánh như anh hậm Bá Dũng khai. (BL 158).

Xét lời khai của bị cáo Nguyễn Văn H tại phiên tòa là phù hợp v i lời khai của bị cáo, bị hại, người liên quan và người làm chứng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử tại cấp sơ thẩm và vật chứng thu giữ cùng v i các tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 10 giờ đến 10 giờ 30 phút ngày 08/4/2021 tại nhà ông hạm Bá Giảng, thuộc xóm 6, xã Trù Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An; Bị cáo Nguyễn Văn H đã có hành vi dùng tay ném một số viên đá (loại đá lèn xanh kích thư c 4x6cm) lên mái ngói nhà chính, mái ngói nhà ngang, mái tôn của nhà ông hạm Bá G làm hư hỏng một số tài sản v i t ng giá trị là 2.508.000đ. V i nội dung trên Bản án hình sự sơ thẩm số 68/2021/HS-ST ngày 29/7/2021 của Toà án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An đã tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn H 09 (chín) tháng tù về tội “Huỷ hoại tài sản” nhưng cho hưởng án treo là đúng quy định pháp luật, không có việc bỏ lọt tội phạm. Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo về việc bỏ lọt tội phạm và làm sai lệch hồ sơ vụ án của bị hại ông ông hạm Bá G.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị hại ông hạm Bá G; giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

2. Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 178, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 09 (chín) tháng tù về tội “Huỷ hoại tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/7/2021).

Giao cho Ủy ban nhân dân xã Trù S, huyện Đô L, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục bị cáo Nguyễn Văn H trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp v i Ủy ban nhân dân xã Trù Sơn trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Bị cáo phải chấp hành nghĩa vụ của người được hưởng án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đ i nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về bồi thường dân sự: Căn cứ khoản 1 điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải bồi thường cho ông hạm Bá G t ng giá trị tài sản bị thiệt hại là 5.508.000đ (Năm triệu năm trăm linh tám nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án quyết định có hiệu lực pháp luật (đối v i các trường hợp cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối v i khoản tiền phải trả cho người thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

N i nh n:

Cỡ chữ