- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm về Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị H đối với ông Nguyễn Thanh D. Bà Nguyễn Thị H được ly hôn đối với ông Nguyễn Thanh D.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1099/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26/12/2024 V/v Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Cơ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phan Thị Dòn.
2. Ông Vũ Huy Hoàng.
Thư ký phiên tòa: Ông Đào Văn Long - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2024, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 726/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 938/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 788/2024/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1983; Địa chỉ: B10/21A ấp 28 (cũ: ấp 2A), xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Ch, Thành phố H.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh D, sinh năm: 1971; Địa chỉ: B10/21A ấp 28 (cũ: ấp 2A), xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Ch, Thành phố H.
(Bà Nguyễn Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông Nguyễn Thanh D vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 05/06/2024 và lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:
Bà Hiếu và ông Nguyễn Thanh D chung sống với nhau từ năm 2002 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 173 quyển số 02/2002 ngày 07/11/2002. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau rất hòa thuận, hạnh phúc. Tuy nhiên, đến năm 2014 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất hòa, hay cãi vả, không hợp nhau về cách sống, không có tiếng nói chung, chồng bà không có trách nhiệm với gia đình, ông Dũng hay vay nợ bên ngoài làm ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình, vợ chồng cố gắng hòa giải để hàn gắn tình cảm và kéo dài cuộc sống để lo cho con cái nhưng đến nay không thể tiếp tục chung sống được nữa. Nay bà Hiếu nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà Hiếu đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Thanh D.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H xin được ly hôn với ông Nguyễn Thanh D.
- Về con chung: Bà Nguyễn Thị H xác nhận có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Minh Nhựt, sinh ngày: 02/12/2003 đã trưởng thành và Nguyễn Nhật Huy, sinh ngày: 30/7/2011. Khi ly hôn, bà Nguyễn Thị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Nguyễn Nhật Huy, không yêu cầu ông Nguyễn Thanh D cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị H xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung và các vấn đề khác: Bà Nguyễn Thị H xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên toà có ý kiến như sau:
Trong quá trình điều tra, thu thập chứng cứ Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử: chấp nhận yêu cầu ly hôn theo đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị H. Về con chung: Giao trẻ Nguyễn Nhật Huy, sinh ngày: 30/7/2011 cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông Nguyễn Thanh D. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Hiếu xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Bà Nguyễn Thị H chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả trình bày của đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Thanh D chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 173 quyển số 02/2002 ngày 07/11/2002. Do cuộc sống chung không hạnh phúc nên bà Nguyễn Thị H yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thanh D. Đây là tranh chấp về ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; Bị đơn có nơi cư trú tại huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ quy định khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh có thẩm quyền giải quyết.
Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh đã thực hiện các thủ tục tống đạt thông báo, giấy triệu tập đương sự, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị H và bị đơn ông Nguyễn Thanh D. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Nguyễn Thanh D vẫn vắng mặt không có lý do, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt nguyên đơn bà Nguyễn Thị H và bị đơn ông Nguyễn Thanh D là phù hợp với Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
[2.1] Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 173, quyển số 02/2002 cấp ngày 07/11/2002 của Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Thanh D là hợp pháp.
[2.2] Hội đồng xét xử nhận thấy, quá trình tố tụng, bị đơn ông Nguyễn Thanh D vắng mặt, không thể hiện có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị H, điều này cho thấy ông Nguyễn Thanh D không có thiện trí hàn gắn, không có bất kỳ động thái nào để níu kéo, cứu vãn cuộc hôn nhân này. Xét thấy trình trạng hôn nhân giữa bà Hiếu và ông Dũng là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị H đối với ông Nguyễn Thanh D là có cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.3] Về con chung: Bà Nguyễn Thị H xác định quá trình chung sống với ông Nguyễn Thanh D có 02 (hai) con chung tên: Nguyễn Minh Nhựt, sinh ngày: 02/12/2003 đã trưởng thành và Nguyễn Nhật Huy, sinh ngày: 30/7/2011. Khi ly hôn, bà Nguyễn Thị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Nguyễn Nhật Huy, bà Hiếu không yêu cầu ông Nguyễn Thanh D phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Quá trình tố tụng vụ án, Tòa án cũng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng thông báo cho ông Nguyễn Thanh D biết về yêu cầu của bà Hiếu muốn được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung. Tuy nhiên, ông Dũng không có bất kỳ động thái nào phản đối. Để tránh làm xáo trộn cuộc sống của trẻ Nguyễn Nhật Huy, thiết nghĩ nên giao trẻ Nguyễn Nhật Huy cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Bà Hiếu xác định không yêu cầu ông Dũng phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, sau này có yêu cầu Tòa án sẽ giải quyết sau.
[2.4] Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị H xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Tòa án không xem xét.
[2.5] Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị H xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Tòa án không xem xét.
[3] Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228 và Điều 238 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị H đối với ông Nguyễn Thanh D. Bà Nguyễn Thị H được ly hôn đối với ông Nguyễn Thanh D.
Giấy chứng nhận kết hôn số 173, quyển số 02/2002 đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 07/11/2002 không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung: Có 02 (hai) con chung tên: Nguyễn Minh Nhựt, sinh ngày: 02/12/2003 đã trưởng thành và Nguyễn Nhật Huy, sinh ngày: 30/7/2011. Giao trẻ Nguyễn Nhật Huy, sinh ngày 30/7/2011 cho bà Nguyễn Thị H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà Nguyễn Thị H không yêu cầu ông Nguyễn Thanh D cấp dưỡng nuôi con chung, sau này có yêu cầu Tòa án sẽ giải quyết sau.
Ông Nguyễn Thanh D có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích con cái khi cần thiết có thể xin thay đổi việc nuôi con hoặc góp phần phí tổn nuôi con sau này.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc nuôi con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con.
3. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị H xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Tòa án không xem xét.
4. Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị H xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Tòa án không xem xét.
5. Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được cấn trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) mà bà Nguyễn Thị H đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0005822 ngày 01 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị H đã nộp đủ án phí.
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
T
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND TP.HCM; VKSND TP.HCM; - VKSND huyện Bình Chánh; - Chi cục THADS huyện Bình Chánh; - UBND xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ____________________ BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Vào hồi giờ phút ngày 26 tháng 12 năm 2024. Chí Minh. Hội đồng xét xử với thành phần gồm có: - Thẩm phán, Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Cơ. - Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phan Thị Dòn. 2. Ông Vũ Huy Hoàng. 726/2024/TLST-HNGĐ ngày 02/10/2024, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H, bị đơn ông Nguyễn Thanh D. khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228 và Điều 238 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; Tuyên xử: H đối với ông Nguyễn Thanh D. Bà Nguyễn Thị H được ly hôn đối với ông Nguyễn Thanh D. nhân dân xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 07/11/2002 không còn giá trị pháp lý. ngày: 02/12/2003 đã trưởng thành và Nguyễn Nhật Huy, sinh ngày: 30/7/2011. Giao trẻ Nguyễn Nhật Huy, sinh ngày 30/7/2011 cho bà Nguyễn Thị Thanh D cấp dưỡng nuôi con chung, sau này có yêu cầu Tòa án sẽ giải quyết sau. có quyền ngăn cản. Vì lợi ích con cái khi cần thiết có thể xin thay đổi việc nuôi con hoặc góp phần phí tổn nuôi con sau này. gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. trở người không trực tiếp nuôi con trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con. Tòa án giải quyết, do đó Tòa án không xem xét. án giải quyết, do đó Tòa án không xem xét. đồng (ba trăm nghìn đồng), được cấn trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) mà bà Nguyễn Thị H đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0005822 ngày 01 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị H đã nộp đủ án phí. kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Buổi nghị án kết thúc lúc giờ phút cùng ngày. cùng nghe và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Văn Cơ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc _______________________ Tại Phòng nghị án Toà án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Đã nghị án về vụ án “Tranh chấp ly hôn” theo hồ sơ thụ lý số Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Áp dụng Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Giấy chứng nhận kết hôn số 173, quyển số 02/2002 đăng ký tại Ủy ban 2. Về con chung: Có 02 (hai) con chung tên: Nguyễn Minh Nhựt, sinh H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà Nguyễn Thị H không yêu cầu ông Nguyễn Ông Nguyễn Thanh D có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc nuôi con để cản trở hoặc Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản 3. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị H xác nhận không có, không yêu cầu 4. Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị H xác nhận không có, không yêu cầu Tòa 5. Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử |