vanban.org

Bản án 1096/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Khoản1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, a khoản 1 Điều 39,Điều 264, 266, 267, 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thị V. Về quan hệ hôn nhân: bà Trịnh Thị V được ly hôn với ông Lê Xuân T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Khoản1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, a khoản 1 Điều 39,Điều 264, 266, 267, 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂN PHÚ
Bản án số:1096/2022/HNGĐ-ST
Ngày 27 – 9 – 2022
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Ngọc Thanh

2. Ông Nguyễn Đình Thức

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Trung Tiến, Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Mai Hảo – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2022 và ngày 27 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 136/2022/HNST ngày 23/02/2022 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 577/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/8/2022 và Quyết định hoãn phiên toà số 697/2022/QĐST-HNGĐ ngày 06/9/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị V, sinh năm 1985 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: 490/2 Hương Lộ 2, phường BTĐ, quận BT, Thành phố HCM;

Bị đơn: Ông Lê Xuân T, sinh năm 1982 (vắng mặt).

Địa chỉ: 49/40/15 TĐT, phường PT, quận TP, Thành phố HCM;

NHẬN THẤY:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trịnh Thị V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Xuân T và bà Trịnh Thị V tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Minh Châu, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 43/2004, ngày 25/6/2004.

Sau thời chung sống hạnh phúc thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, ông T thường xuyên uống rượu, đánh vợ con. Hai bên hòa giải nhiều lần nhưng không kết quả. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt nên bà V yêu cầu ly hôn với ông T để ổn định cuộc sống.

Về con chung: có 02 con chung tên Lê Thị Trà M, sinh ngày: 26/10/2013 và Lê Thị Thùy L, sinh ngày 01/4/2005. Khi ly hôn bà V yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung: bà V không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: bà V xác nhận không có.

Tòa án không tiến hành hòa giải được do bị đơn ông Lê Xuân T đều vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Bị đơn ông Lê Xuân T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, giấy triệu tập tham gia phiên họp và hòa giải, tham gia phiên tòa xét xử nhưng ông T đều vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Nguyên đơn bà Trịnh Thị V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;

Bị đơn ông Lê Xuân T vắng mặt không lý do và không vì sự kiện bất khả kháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử như sau:

Về tố tụng:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình giải quyết vụ án về thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định đúng quan hệ tranh chấp, xác định tư cách pháp lý, và mối quan hệ của những người tham gia tố tụng cũng như thời hạn gửi các văn bản tố tụng, hồ sơ Viện kiểm sát nghiên cứu.

- Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

- Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại tại các buổi làm việc của Tòa án là tự nguyện từ chối quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là phù hợp quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về quan hệ hôn nhân: bà Trịnh Thị V được ly hôn ông Lê Xuân T.

- Về con chung: bà V khai có 02 con chung tên Lê Thị Trà M, sinh ngày: 26/10/2013 và Lê Thị Thùy L, sinh ngày 01/4/2005. Khi ly hôn bà V yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu cấp dưỡng. Viện kiểm sát nhận thấy, trẻ M và trẻ L đang sống với bà V và cũng có nguyện vọng ở chung với mẹ. Để ổn định tâm lý, cuộc sống của trẻ nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu về con chung của bà V.

- Về tài sản chung: bà V khai không yêu cầu giải quyết nên Viện kiểm sát không xem xét giải quyết.

- Về nợ chung: bà V khai không có nên Viện kiểm sát không xem xét giải quyết.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Yêu cầu xin ly hôn của bà Trịnh Thị V đối với ông Lê Xuân T là quan hệ tranh chấp về hôn nhân gia đình. Căn cứ kết quả xác minh của cơ quan công an phường Phú Trung, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xác minh: ông Lê Xuân T, sinh năm 1982 hiện nay đang thuê phòng tạm trú tại 49/40/15 TĐT, phường PT, quận TP, Thành phố HCM. Bà V khởi kiện ông T có nơi cư trú tại quận TP, Thành phố HCM nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của Toà án nhân dân quận Tân Phú, quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bà Trịnh Thị V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Ông Lê Xuân T đã được Tòa án tống đạt triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do và không vì sự kiện bất khả kháng; Căn cứ khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung: Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 43/2004, ngày 25/6/2004 của Ủy ban nhân dân xã Minh Châu, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa thể hiện, hôn nhân giữa bà Trịnh Thị V và ông Lê Xuân T là quan hệ hôn nhân hợp pháp nên phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về yêu cầu xin ly hôn của bà Trịnh Thị V, Hội đồng xét xử xét thấy: trong thời gian chung sống vợ chồng không hạnh phúc, giữa hai bên bất đồng quan điểm sống, đã cố gắng để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Nay bà Trịnh Thị V muốn ly hôn để ổn định cuộc sống. Qua lời khai của bà V cho biết: do mâu thuẫn vợ chồng nên bà và ông T không thể tiếp tục cuộc hôn nhân. Hội đồng xét xử nhận thấy, yêu cầu của bà V là phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Vì thực tế tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được thì không nhất thiết phải kéo dài cuộc sống vợ chồng; Tòa án triệu tập ông Lê Xuân T đến Tòa để ghi lời khai, tham dự phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, tham dự phiên tòa, nhưng ông T vẫn không có mặt, thể hiện ông T không quan tâm đến kết quả xin ly hôn của bà V tại Tòa và không thể hiện ý chí mong muốn cải thiện tình cảm vợ chồng để hàn gắn xây dựng hạnh phúc gia đình. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trịnh Thị V đối với ông Lê Xuân T.

- Về quan hệ con chung: bà V và ông T có 02 con chung tên Lê Thị Trà M, sinh ngày: 26/10/2013 và Lê Thị Thùy L, sinh ngày 01/4/2005. Bà V yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Lê Thị Trà M, sinh ngày: 26/10/2013 và Lê Thị Thùy L, sinh ngày 01/4/2005. Mặt khác, ông T không đến Tòa và cũng không có văn bản trình bày ý kiến về vấn đề nuôi con chung. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 81, khoản 2 Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giao con chung tên Lê Thị Trà M, sinh ngày: 26/10/2013 và Lê Thị Thùy L, sinh ngày 01/4/2005 cho bà Trịnh Thị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trẻ đủ 18 tuổi, trẻ đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Tạm hoãn yêu cầu cấp dưỡng nuôi con cho ông Lê Xuân T do bà V không có yêu cầu.

- Tài sản chung và nợ chung: bà Trịnh Thị V khai tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 (ba trăm ngàn) đồng do nguyên đơn bà Trịnh Thị V phải nộp không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

-Khoản1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, a khoản 1 Điều 39,Điều 264, 266, 267, 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 19, Điều 56, Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự năm 2014;

- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thị V.

- Về quan hệ hôn nhân: bà Trịnh Thị V được ly hôn với ông Lê Xuân T.

Giấy chứng nhận kết hôn số 43/2004, ngày 25/6/2004 của Ủy ban nhân dân xã Minh Châu, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa cấp, không còn giá trị pháp luật kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Bà Trịnh Thị V được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Lê Thị Trà M, sinh ngày: 26/10/2013 và Lê Thị Thùy L, sinh ngày 01/4/2005 cho đến khi trẻ đủ 18 tuổi, trẻ đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình nuôi.

Bà V có quyền yêu cầu ông T cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Bà V cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Trường hợp ông T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà V có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom.

Trong trường hợp bà V không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì trên cơ sở lợi ích của con chung, ông T hoặc người thân thích, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về phương thức cấp dưỡng: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho ông Lê Xuân T do bà Trịnh Thị V không yêu cầu.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết;

4. Về tài sản chung: bà Trịnh Thị V xác nhận tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Về nghĩa vụ dân sự bà Trịnh Thị V xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

6. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Bà Trịnh Thị V phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí sơ thẩm nhưng được cấn trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng đã nộp, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0035040 ngày 23/02/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú. Bà Trịnh Thị V đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

6. Quyền kháng cáo: nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án của Tòa án cấp sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết theo quy định pháp luật; Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án sơ thẩm theo quy định tại Điều 278 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Trường hợp bản án, quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ