- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hon"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị H 1.
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1096/2020/HNGĐ-ST Ngày: 27/10/2020 V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Kim Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Tiến Dũng
2. Bà Nguyễn Thị Lượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức tham gia phiên tòa:
Ông Võ Cao Hùng – Kiểm sát viên.
Ngày 27/10/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 528/2020/TLST– HNGĐ ngày 17/6/2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 489/2020/QĐXXST -HNGĐ ngày 05/10/2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1984 (có đơn xin vắng mặt)
Hộ khẩu thường trú: xã Ký Xuân, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
Địa chỉ tạm trú: 36 đường số A, khu phố B, phường HBC, quận TĐ, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm: 1991 (vắng mặt)
Hộ khẩu thường trú: ấp Trung Sơn, xã Xuân Trường, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai
Địa chỉ tạm trú: 178 đường HD, khu phố A, phường LC, quận TĐ, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Phạm Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn L tự nguyện đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 93 do UBND xã Xuân Trường, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 20/06/2018, có tổ chức đám cưới. Sau khi kết hôn vợ chồng không sống chung với nhau, sống xa nhau đến đầu năm 2019 thì vợ chồng mới sống chung với nhau được 01 tháng, khi chung sống cùng nhau mới phát hiện vợ chồng không cùng quan điểm sống, mâu thuẫn nên thường xuyên cãi vã nhau, vì vậy mà vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, trong quá trình sống ly thân không có liên lạc với nhau, cũng không biết gì về nhau. Tại Tòa án bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không còn khả năng hàn gắn nên bà yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn L.
- Về con chung, tài sản chung; nợ chung: Bà Hương tự xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn L: Căn cứ theo kết quả xác minh về tình trạng cư trú của Công an phường Linh Chiểu, quận Thủ Đức thì: “Ông Nguyễn Văn L, sinh năm: 1991 hiện đang cư trú, làm việc tại: 178 đường HD, khu phố A, phường LC, quận TĐ, Thành phố Hồ Chí Minh” Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn có đơn xin được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
- Bị đơn ông Nguyễn Văn L đã được toà án tiến hành các thủ tục tố tụng hợp lệ từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do chính đáng, không giao nộp bất cứ tài liệu, chứng cứ nào cho Tòa án, cũng không có ý kiến nào đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. * Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Tòa án từ khi thụ lý cho đến mở phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và đương sự có mặt chấp hành đúng quy định của pháp luật. Bị đơn đã được Tòa án tiến hành các thủ tục hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định: 1. Về tố tụng:
- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình được pháp luật quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ vào kết quả xác minh về tình trạng cư trú của Công an phường Linh Chiểu, quận Thủ Đức thì bị đơn Nguyễn Văn L hiện đang cư trú, làm việc tại: 178 đường Hoàng Diệu 2, khu phố 4, phường Linh Chiểu, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, nên theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn ông Nguyễn Văn L đã được toà án tiến hành các thủ tục tố tụng hợp lệ từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn. 2. Về nội dung: Xét yêu cầu của nguyên đơn, hội đồng xét xử nhận thấy. 2.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị H và ông Nguyễn Văn L tự nguyện đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 93 do UBND xã Xuân Trường, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 20/06/2018. Căn cứ Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì quan hệ hôn nhân giữa ông, bà là hôn nhân hợp pháp.
Nhận thấy, theo trình bày của nguyên đơn tại bản tự khai, tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thì bà Hương và ông Lim kết hôn tự nguyện, quá trình chung sống thì phát sinh mâu thuẫn không thể giải quyết được nên bà yêu cầu ly hôn với ông Lim. Tòa án đã tiến hành hòa giải, hàn gắn, đoàn tụ gia đình nhưng bà Hương xác định tình cảm vợ chồng với ông Lim không còn, hiện tại vợ chồng không còn chung sống với nhau, không còn sự liên lạc, quan tâm cho nhau nữa, bản thân ông Lim cũng biết việc bà yêu cầu ly hôn nhưng không hợp tác giải quyết, vì vậy bà kiên quyết ly hôn.
Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn L cũng đã được Tòa án tiến hành xác minh địa chỉ cư trú, triệu tập nhiều lần để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do, cũng không có bất cứ văn bản ghi nhận ý kiến nào gửi cho Tòa án đối với yêu cầu ly hôn của bà Hương. Do bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất nên Tòa án tiến hành hoãn phiên tòa theo thủ tục pháp luật quy định và tiến hành tống đạt hợp lệ quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa lần hai nhưng bị đơn vẫn vắng mặt, điều này cho thấy ông Nguyễn Văn L cũng không còn sự quan tâm, không thể hiện được thiện chí muốn hàn gắn mối quan hệ hôn nhân với bà Phạm Thị H.
Xét, vợ chồng thì phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình, vợ chồng thì phải chung sống cùng nhau, có tình nghĩa vợ chồng nhưng theo những gì nguyên đơn trình bày cho thấy quan hệ hôn nhân của ông, bà hiện tại đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không có, nên mục đích hôn nhân cũng không thể đạt được.
Vì lý do trên, căn cứ Điều 19, Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
2.2. Về con chung; tài sản chung; nợ chung: Đương sự tự xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 186, Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Điểm a Khoản 1 Điều 238, Điều 264, Điều 266, Điều 273, Điều 280, Điều 482 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 19, 51, 53, 54, 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị H 1.1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phạm Thị H và ông Nguyễn Văn L. 1.2 Về con chung; tài sản chung; nợ chung: Đương sự tự xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, hội đồng xét xử không xem xét. 2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2019/0057241 ngày 17/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận TĐ. Bà Phạm Thị H đã nộp đủ án phí. 3. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án. 4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP.HCM; - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM; - Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức; - Thi hành án dân sự quận Thủ Đức; - Cơ quan đã thực hiện đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu HS,VP. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Kim Trang THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |