vanban.org

Bản án 1091/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Trần Kiều H.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trần Kiều H và ông Lê Chí C. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Trần Kiều H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1091/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 20-10-2020.
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thơ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Ngọc

2. Bà Nguyễn Phước Trinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Thủy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa: Không tham gia phiên tòa.

Trong ngày 30 tháng 09 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Củ Chi – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 35/2020/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2020 về tranh chấp Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 372/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số: 317/2020/QĐST-HNGĐ ngày 30/9/2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Kiều H, sinh năm: 1988; Địa chỉ: xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

- Bị đơn: Ông Lê Chí C, sinh năm: 1984; Địa chỉ: xã T,huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 21/11/2019, nguyên đơn bà Trần Kiều H trình bày bà và ông Lê Chí C tự nguyện sống chung từ năm 2012, có đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn số 121/2012 ngày 18/06/2012.

Bà H trình bày vợ chồng bà ban đầu chung sống rất hạnh phúc nhưng từ khi bà mang thai cháu thứ hai thì ông C quen với người phụ nữ khác. Sau nhiều lần cố gắng hàn gắn nhưng ông C vẫn không thay đổi, bà H nhận thấy mục đích hôn nhân không thể đạt được nên yêu cầu ly hôn với ông C.

Về nuôi con chung: Bà xác định bà và ông C có 02 con chung tên Lê Bảo N, sinh ngày: 24/12/2011 và Lê Nguyên P, sinh ngày 03/09/2017. Bà H yêu cầu quyền trực tiếp nuôi 02 con chung. Về mức cấp dưỡng nuôi con chung, bà yêu cầu mức cấp dưỡng 3.000.000 đồng.

Về chia tài sản chung: Bà xác định không có.

Về nghĩa vụ dân sự chung: Bà xác định không có.

Bị đơn đã được Toà án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt không rõ lý do. Do vậy, Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Căn cứ đơn khởi kiện ngày 21/11/2019, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết là Ly hôn, tranh chấp về nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Bị đơn là anh Lê Chí C có nơi cư trú tại ấp xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi.

Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà bị đơn vẫn vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự , Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Tại phiên tòa, nguyên đơn xác định giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Về quan hệ vợ chồng:

Bà Trần Kiều H và ông Lê Chí C tự nguyện sống chung, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện C cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 121/2012, ngày 18/06/2012, nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp.

Nguyên đơn bà H cho rằng nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do ông C không chung thủy, có mối quan hệ với người phụ nữ khác ở bên ngoài, về nhà còn gây cãi, gây áp lực với bà. Bà đã cố gắng để hàn gắn quan hệ vợ chồng nhưng không thành. Bà và ông C không thể sống chung được nữa, nhận thấy không còn tình cảm với ông C nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông C. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không gửi văn bản trình bày ý kiến mặc dù được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định và được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do, thể hiện bị đơn không mong muốn đoàn tụ và hàn gắn quan hệ vợ chồng. Do vậy không có cơ sở hòa giải đoàn tụ theo quy định. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H và ông C là có xảy ra, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được và không có khả năng đoàn tụ nên chấp nhận yêu cầu về việc ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở.

Về nuôi con chung: Căn cứ lời trình bày của các nguyên đơn, giấy khai sinh số 310/2010 ngày 27/06/2012 và giấy khai sinh số 614/2017 ngày 13/09/2017 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh xác định bà H và ông C có 02 con chung tên: Lê Bảo N, sinh ngày: 24/12/2011 và Lê Nguyên P, sinh ngày 03/09/2017. Tại phiên tòa, bà H yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi 02 con và mức cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000 đồng.

Về chia tài sản chung: Bà H xác định không tranh chấp, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nghĩa vụ dân sự chung: Bà H xác định không có.

Bị đơn vắng mặt tại phiên toà, nếu có tranh chấp về nuôi con chung, về mức cấp dưỡng nuôi con chung, về chia tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung sẽ được giải quyết bằng vụ kiện khác.

Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật phí, lệ phí tòa án số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015, nghĩ nên buộc nguyên đơn phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Luật phí, lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Trần Kiều H.

1. Về hôn nhân:

Cho ly hôn giữa bà Trần Kiều H và ông Lê Chí C.

(Quan hệ vợ chồng giữa bà Trần Kiều H và anh Lê Chí C được xác lập theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 121, ngày 18/06/2012 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp)

2. Về nuôi con chung: Giao 02 con chung tên Lê Bảo N, sinh ngày: 24/12/2011 và Lê Nguyên P, sinh ngày: 03/09/2017 cho bà Trần Kiều H trực tiếp nuôi dưỡng.

Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, không ai được cản trở.

Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu theo quy định tại Điều 84, Điều 119 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

3. Về chia tài sản chung, nghĩa vụ dân sự chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

4. Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng buộc bà Trần Kiều H phải nộp, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo biên lai số AA/2019/0083276 ngày 10 tháng 01 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi; bà H đã nộp đủ tiền án phí.

Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

5. Đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự không có mặt tại phiên toà thì có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ