- Tranh chấp gì? "Ung Bửu H - phạm tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai (điều 173 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? uyên bố: Bị cáo Ung Bửu H phạm tội “Trộm cắp tài s n”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật t tụng hình sự; Điều 269 Bộ luật T tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
N N N N
ỘNG
XÃ ỘI Ủ NG Ĩ VI N M
H N
N
- d - nh h
N
N
N B n án s : 109/2021/HS-ST Ngày: 03/12/2021
NHÂN DANH
NƯỚ ỘNG
XÃ ỘI Ủ NG Ĩ VI N M
TÒA ÁN NHÂN DÂN H N
N , N
N
N
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Qu c Tuấn.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Hạnh
2. Bà Nguyễn Thị Phương Dung
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Minh Thị Thu Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân Hện B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện B tham gia phiên tòa: Ông Lư Ngọc Quí - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân Hện B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý s 116/2021/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm s 116/2021/QĐXXST-HS ngày 15/11/2021 đ i với bị cáo:
ng ửu H (tên gọi khác: Bi); Sinh ngày 07/7/1993
Nơi sinh: Tỉnh Bình Thuận
Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Khu ph P, thị trấn C, Hện B, tỉnh Bình Thuận.
Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; qu c tịch: Việt Nam; con ông Ung Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị Kim Z, sinh năm 1962; Trú tại: Khu ph P, thị trấn C, Hện B, tỉnh Bình Thuận.
Tiền án: Không
Tiền sự:
-Ngày 19/02/2021 Ung Bửu H bị Công an xã H i Ninh xử phạt vi phạm hành chính s tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài s n, H đã đóng phạt xong.
- Ngày 04.3.2021, Ung Bửu H bị Tòa án nhân dân Hện B ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sơ cai nghiện bắt buộc (theo Quyết định s 14/QĐ-TA) tuy nhiên H chưa được đưa đi cai nghiện.
Quá trình hoạt động nhân thân của bị cáo: Ngày 15/01/2019 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn C áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời hạn 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Tạm giam: Ngày 05/10/2021
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
1/ Bà Lê Thị Hằng G, sinh 1993 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu ph Xuân An 1, thị trấn C,Hện B, tỉnh Bình Thuận.
2/ Ông Trương Văn L, sinh 1967 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn 4, xã Hàm Đức, Hện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Phạm Văn Ngọc, sinh năm 1978 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn 3, xã Hàm Liêm, Hện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
2/ Chị Trần Thị Ngọc Mai, sinh năm 1983 (Vắng mặt)
3/ Bà Trần Thị Ô, sinh năm 1947 (Vắng mặt)
4/ Chị Lê Thị H, sinh 1984 (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Khu ph P, thị trấn C,Hện B, tỉnh Bình Thuận.
NỘI NG VỤ N:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ung Bửu H, sinh ngày 7/7/1993 tại tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu ph P, thị trấn C, Hện B, tỉnh Bình Thuận đã có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp. Ngày 19/2/2021 Ung Bửu H bị Công an xã H i Ninh xử phạt vi phạm hành chính s tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài s n, H đã đóng phạt. Ngày 19.3.2021 và ngày 09.8.2021, H tiếp tục thực hiện 02 lần trộm cắp tại thị trấn C, Hện B, tỉnh Bình Thuận, cụ thể:
Lần 1: Vào kho ng 17 giờ 00 ngày 19/03/2021, do không có tiền để mua ma túy sử dụng nên Ung Bửu H điều khiển xe đạp hiệu Martin của H đi tìm tài s n để sơ hở thì thực hiện hành vi trộm cắp. Khi H đạp xe đến công trình xây dựng Kho bạc nhà nước Hện B tại khu ph Xuân An 2, thị trấn C, Hện B thì phát hiện có một đ ng cây sắt (loại cây sắt dùng làm c p pha trong xây dựng) của ông Trương Văn L (là thầu xây dựng công trình) đang để nằm phía trong sân công trình không có người trông coi nên H liền chạy đến vị trí đ ng cây sắt để trộm cắp. H dùng dây cột kho ng 6-8 cây sắt vào baga xe đạp rồi chở đi về giấu ở phía mép bờ kè trước nhà của H rồi tiếp tục quay lại. Trong đêm ngày 19/03/2021, H thực hiện 06 lần trộm cắp với hình thức như trên, tổng s cây sắt trộm được là 42 cây (gồm: 01 cây sắt tròn phi 20, có chiều dài 1,39 m; 01 cây sắt tròn phi 20, có chiều dài 1,02 m; 03 cây sắt hình hộp ch nhật 5 x 10 cm, dài 02 m, bên trông rỗng; 06 cây sắt hình hộp ch nhật 4 x 8 cm, dài 02 m, bên trông rỗng; 27 cây sắt hình hộp ch nhật 4 x8 cm, dài 1,5 m, bên trông rỗng; 04 cây sắt hình hộp ch nhật 4 x 8 cm, dài 02 m, bên trong rỗng). Đến sáng ngày 20/08/2021, H đi bộ ra chổ giấu cây sắt rồi lần lượt vác 38 cây sắt đến tiệm thu mua phế liệu của bà Trần Thị Ngọc Mai ở khu ph Hiệp Phước, thị trấn Chợ Lầu, Hện Bắc Bình để bán. Bà Mai không biết tài s n do H trộm cắp mà có nên mua với giá 680.000 đồng, H dùng s tiền này đi mua ma túy về sử dụng. Đến ngày 23/03/2021, H tiếp tục vác thêm 04 cây sắt còn lại đến bán cho bà Trần Thị Ngọc Mai, tuy nhiên chưa bán được thì bị Công an thị trấn C phát hiện mời về trụ sở làm việc, H đã thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp nêu trên của mình. (Bút lục s : 77-97).
Tại B n kết luận định giá tài s n s 77/2021/HĐĐG-TTHS ngày 26/08/2021 của Hội đồng định giá tài s n trong T tụng hình sự Hện B kết luận:
Giá trị tài s n là 42 cây bị trộm cắp vào ngày 19/3/2021 tại thị trấn C gồm: 01 cây sắt tròn phi 20, có chiều dài 1,39 m; 01 cây sắt tròn phi 20, có chiều dài 1,02 m; 03 cây sắt hình hộp ch nhật 5 x 10 cm, dài 02 m, bên trông rỗng; 06 cây sắt hình hộp ch nhật 4 x 8 cm, dài 02 m, bên trông rỗng; 27 cây sắt hình hộp ch nhật 4 x8 cm, dài 1,5 m, bên trông rỗng; 04 cây sắt hình hộp ch nhật 4 x 8 cm, dài 02 m, bên trong rỗng có tổng trọng lượng là 194,5kg. tại thời điểm ngày 19/3/2021: Đơn giá: 8.000 đồng/kg, trọng lượng: 194,5kg, thành tiền: 8.000 đồng/kg x 194,5 kg = 1.556.000 đồng.
Lần 2: Vào kho ng 11 giờ 00 ngày 09/08/2021, Ung Bửu H tiếp tục điều khiển xe đạp hiệu Martin đi từ chợ C về nhà ở khu ph Hiệp Phước, thị trấn Chợ Lầu, Hện Bắc Bình, khi đi Gng qua Qu c lộ 1A thì H nhìn thấy 01 tủ nhôm kính (tủ dùng đựng bán vé s ) của bà Lê Thị Hằng G đang để bên lề đường Qu c lộ 1A thuộc khu ph Xuân An 1, thị trấn C, Hện B không có người trông coi nên n y sinh ý định trộm cắp bán kiếm tiền mua ma túy sử dụng. H chạy xe đạp về nhà để cất xe. Đến kho ng 12 giờ 00 cùng ngày, H đi bộ quay lại chổ tủ nhôm kính nói trên quan sát không thấy ai nên H liền đẩy tủ nhôm kính dọc theo Qu c lộ 1A về hướng ngã ba C - H i Ninh rồi tiếp tục đẩy xu ng bờ kè thuộc khu ph P, thị trấn C, Hện B. Sau đó H nhặt 01 cục gạch gần đó đập bể hết phần kính của tủ rồi đập móp khung nhôm, đập xong H ném cục gạch xu ng bờ kè. H lấy khung nhôm đã bị đập móp đem đến tiệm thu mua phế liệu của bà Trần Thị m ở khu ph Hiệp Phước, thị trấn Chợ Lầu, Hện Bắc Bình để bán. Bà Ô không biết tài s n do H trộm cắp mà có nên mua với giá 112.000 đồng. H đi mua ma túy về sử dụng hết. (Bút lục s : 98-103).
Tại B n kết luận định giá tài s n s 76/2021/HĐĐG-TTHS ngày 26/08/2021 của Hội đồng định giá tài s n trong T tụng hình sự Hện B kết luận:
Giá trị tài s n là 01 (một) cái tủ nhôm kính dùng để bán vé s , kích thước: dài 1,3m, cao 01m, rộng 0,8m, mua mới vào năm 2013 tại thời điểm ngày 09/08/2021 : Đơn giá: 4.000.000 đồng/cái, s lượng: 01 cái, chất lượng còn lại: 60%, thành tiền: 01 cái x (4.000.000 đồng/cái x 60%) = 2.400.000 đồng (Hai triệu b n trăm nghìn đồng).
Như vậy tổng giá trị tài s n Ung Bửu H đã trộm cắp vào ngày 19.3.2021 của Trương Văn L và ngày 09.8.2021 của Lê Thị Hằng G là 1.556.000 đồng + 2.400.000 đồng = 3.956.000 đồng. (Bút lục s : 18,19, 20, 21)
Việc thu gi , tạm gi tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng và bồi thường dân sự: Sau khi định giá tài s n, Cơ quan C nh sát điều tra - Công an Hện B đã tr lại toàn bộ tài s n mà Ung Bửu H đã trộm cắp cho bị hại Trương Văn Lôc, L không yêu cầu bồi thường gì thêm. Cơ quan điều tra cũng tr lại 01 khung nhôm bị móp méo cho bị hại Lê Thị Hằng G, bà G tiếp tục yêu cầu H bồi thường s tiền 2.400.000 đồng, đến nay H vẫn chưa bồi thường. (Bút lục s : 126-131).
Đ i với s tiền 680.000 đồng bà Trần Thị Ngọc Mai mua 38 cây sắt của Ung Bửu H, sau đó bà Mai bán lại 38 cây sắt này cho bà Lê Thị H s tiền 1.190.000 đồng, do bà H không yêu cầu bà Mai ph i bồi thường lại nên bà Mai cũng không yêu cầu Ung Bửu H bồi thường s tiền 680.000 đồng.
Đ i với s tiền 112.000 đồng bà Trần Thị Ô mua khung nhôm của Ung Bửu H, bà Ô không yêu cầu bồi thường nên không xem xét, gi i quyết.
Riêng 01 chiếc xe đạp hiệu Martin là phương tiện mà Ung Bửu H dùng đi thực hiện vụ trộm cắp nêu trên, H đã bán lại cho một người tên Tuấn (không rõ họ tên, địa chỉ) tại xã Hồng Thái nên không thu gi được và cục gạch H dùng để đập bể tủ kính, sau đó ném xu ng khu vực bờ kè thuộc khu ph P, thị trấn C, Hện B, Công an thị trấn C đã tổ chức truy tìm nhưng không tìm được nên không xem xét, xử lý.
Tại b n cáo trạng s 115/CT-VKS.HBB ngày 26/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân Hện B đã truy t bị cáo Ung Bửu H về tội “Trộm cắp tài s n” theo kho n 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Hện B luận tội đ i với bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, gi nguyên quyết định truy t và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên b : Bị cáo Ung Bửu H phạm tội: “Trộm cắp tài s n”
Áp dụng: Kho n 1 Điều 173; điểm s kho n 1 Điều 51; điểm g kho n 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017);
Xử phạt: Bị cáo Ung Bửu H từ 15 đến 18 tháng tù.
Áp dụng: Kho n 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi bổ sung năm 2017). Kho n 1 Điều 584; Kho n 1 Điều 585; Điều 589; Kho n 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Ung Bửu H ph i bồi thường cho bà Lê Thị Hằng G s tiền thiệt hại về tài s n là 2.400.000 đồng.
Bị cáo Ung Bửu H không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét gi m nhẹ hình phạt cho bị cáo
Hội đồng xét xử, xét thấy đề nghị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên có cơ sở để xem xét.
N N ỊN Ủ
N:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]Về hành vi, quyết định t tụng của Cơ quan điều tra Công an Hện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Hện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy t đã thực hiện đúng về thẩm quyền,trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật t tụng hình sự. Quá trình điều tra, chuẩn bị xét xử và tại phiên toà hôm nay,bị cáo Ung Bửu H không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định t tụng của Cơ quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
Trong giai đoạn điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo Ung Bửu H đã thừa nhận: Vào kho ng 17 giờ 00 ngày 19/3/2021 tại khu ph Xuân An 2, thị trấn C, Hện B, tỉnh Bình Thuận. Bị cáo Ung Bửu H đã có hành vi lén lút trộm cắp 42 cây (gồm: 01 cây sắt tròn phi 20, có chiều dài 1,39 m; 01 cây sắt tròn phi 20, có chiều dài 1,02 m; 03 cây sắt hình hộp ch nhật 5 x 10 cm, dài 02 m, bên trông rỗng; 06 cây sắt hình hộp ch nhật 4 x 8 cm, dài 02 m, bên trông rỗng; 27 cây sắt hình hộp ch nhật 4 x8 cm, dài 1,5 m, bên trông rỗng; 04 cây sắt hình hộp ch nhật 4 x 8 cm, dài 02 m, bên trong rỗng) trị giá 1.556.000 đồng của Trương Văn L.Ngoài ra,vào kho ng 11 giờ 00 phút ngày 09/8/2021 tại khu ph Xuân An 1, thị trấn C, Hện B, tỉnh Bình Thuận.Bị cáo Ung Bửu H tiếp tục lén lút trộm 01 cái tủ nhôm kính dùng để bán vé s , kích thước: dài 1,3m, cao 01m, rộng 0,8m, trị giá 2.400.000 đồng của Lê Thị Hằng G bị phát hiện cùng tang vật. Tổng giá trị tài s n bị cáo Ung Bửu H trộm cắp là 3.956.000 đồng
Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu,chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Ung Bửu H phạm tội “Trộm cắp tài s n”. Với hành vi nêu trên và hậu qu để lại, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Hện B đã truy t bị cáo Ung Bửu H về tội: “Trộm cắp tài s n” theo kho n 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có cơ sở và đúng pháp luật.
Bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi chiếm đọat tài s n là hành vi nguy hiểm cho xã hội ph i bị xử lý nhưng do b n chất tham lam, tư lợi cá nhân và xem thường pháp luật, bị cáo đã phạm tội. Bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo phạm tội do lỗi c ý trực tiếp.
Hành vi phạm tội của bị cáo không nh ng xâm hại trực tiếp đến quyền sở h u hợp pháp về tài s n của người bị hại mà còn gây nh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do đó, nghĩ nên tuyên cho bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do bị cáo gây ra để c i tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội đồng thời để răn đe các đ i tượng khác có ý đồ phạm tội tương tự.
[3]Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tuy nhiên, xét sau khi phạm tội, bị cáo Ung Bửu H đã thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s kho n 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử sẽ quan tâm để gi m nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[4]Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này, bị cáo Ung Bửu H đã phạm tội hai lần trở lên. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g kho n 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) cần áp dụng đ i với bị cáo
[5]Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Lê Thị Hằng G yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài s n là 2.400.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của bị hại Lê Thị Hằng G là có cơ sở nghĩ nên buộc bị cáo Ung Bửu H ph i bồi thường s tiền thiệt hại về tài s n là 2.400.000 đồng cho bị hại Lê Thị Hằng G là phù hợp
[6]Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo không có nghề nghiệp nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đ i với bị cáo.
[7] Về án phí: Bị cáo Ung Bửu H ph i nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
[8]Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật T tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
Q
ỊN :
Căn cứ vào: Kho n 1 Điều 268; Kho n 1 Điều 269 Bộ luật T tụng hình sự năm 2015.
uyên bố: Bị cáo Ung Bửu H phạm tội “Trộm cắp tài s n”.
dụng: Kho n 1 Điều 173; điểm s kho n 1 Điều 51; Điểm g kho n 1 điều 52. Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi bổ sung năm 2017);
Xử h t: Bị cáo Ung Bửu H 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05 tháng 10 năm 2021.
Áp dụng: Kho n 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi bổ sung năm 2017). Kho n 1Điều 584; Kho n 1 Điều 585; Điều 589; Kho n 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Ung Bửu H ph i bồi thường cho bà Lê Thị Hằng G s tiền thiệt hại về tài s n là 2.400.000 đồng.
Áp dụng: Kho n 2 Điều 135 Bộ luật t tụng hình sự; điểm a, c kho n 1 Điều 23 Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ qu c hội quy định về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Bị cáo Ung Bửu H ph i nộp 200.000 đồng án phí HSST và 300.000 đồng án phí DSST.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được b n án hoặc niêm yết b n án.
Kể từ ngày b n án, quyết định có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong tất c các kho n tiền, hàng tháng bên ph i thi hành án còn ph i chịu kho n tiên lãi của s tiền còn ph i thi hành theo mức lãi suất quy định tại kho n 2, điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp b n án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, sửa đổi, bổ sung năm 2014,thì người được thi hành án dân sự, người ph i thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014;Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. ÀN VIÊN ỘI ỒNG XÉ XỬ
ẨM P N- Ủ Ọ P IÊN OÀ NG ỄN Ị P ƯƠNG NG NG ỄN Ị ẠN
L M Q Ố
ẤN
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Thuận; - VKSND Hện B; - Công an Hện BắcBình; - Chi cục THADS Hện B; - Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Lưu Hồ sơ vụ án, V.P. | M. ỘI ỒNG XÉ XỬ SƠ ẨM ẨM P N - Ủ Ọ P IÊN L M Q Ố ẤN |