vanban.org

Bản án 109/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 09 (Chín) tháng tù.

Tịch thu tiêu hủy 01 áo ngắn tay sọc caro trắng đen, 01 quần dài sọc caro trắng đen, 01 áo khoác tay dài màu đỏ, 01 đôi dép cao su màu trắng (Theo biên bản giao nhận vật chứng 05/3/2026). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị N - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 09 (Chín) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 109/2026/HS-ST
Ngày: 25/3/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Út.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Hưng

2. Ông Đinh Bảo Quốc

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Uyên Phương – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình An – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 94/2026/TLST-HS ngày 05/3/2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2026/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị N

Giới tính: Nữ

Sinh năm: 1968Nơi sinh: Lâm Đồng

CCCD 060168002422

Nơi đăng ký HKTT: Tổ D, Khu phố D, phường P, tỉnh Lâm Đồng.

Chỗ ở hiện nay: L6-25.09 V, G Đ, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Quốc tịch: Việt Nam;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không.

Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không

Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Giúp việc.

Con ông Nguyễn Văn N1 (c) và bà Lê Thị C (c).

Chồng: Nguyễn Văn V

Có 03 con

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 14/12/2025

(Bị cáo có mặt).

Bị hại: Bà Nông Thị B (Vắng mặt)

Địa chỉ: B C, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị N là người đang làm giúp việc tại L Vinhomes C, G Đ, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vào khoảng 20 giờ 50 phút ngày 14/12/2025, Năm đến khuôn viên nội khu C, địa chỉ số G Đ, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh để chơi thì phát hiện chị Nông Thị B đang đứng xem trò chơi và có để 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro màu tím, có ốp lưng màu trắng ở túi quần sau bên phải nên Năm nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Sau đó, N áp sát chị B từ phía sau rồi dùng tay trái lấy trộm 01 điện thoại di động Iphone 14 Pro màu tím của chị B thì bị chị B phát hiện tri hô thì được quần chúng hỗ trợ bắt giữ Năm, thu giữ điện thoại mà Năm đã trộm và báo Công an phường T. Nhận được tin báo, Công an phường T tiến hành đến hiện trường lập biên bản phạm tội quả tang và đưa N về trụ sở để làm việc.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị N khai nhận hành vi phạm tội. Khi thấy chị B sơ hở trong việc quản lý tài sản thì N đã nảy sinh ý định và thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như trên. Hành vi do một mình Nguyễn Thị N thực hiện.

Kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐGTS ngày 18/12/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên trong Tố tụng hình sự phường T, kết luận: Điện thoại Iphone 14 Pro màu tím có giá trị 17.500.000 đồng.

Vật chứng vụ án:

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro màu tím đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Nông Thị B;

- 01 áo ngắn tay sọc caro trắng đen, 01 quần dài sọc caro trắng đen, 01 áo khoác tay dài màu đỏ, 01 đôi dép cao su màu trắng là trang phục Năm mặc khi thực hiện hành vi phạm tội;

Tại bản cáo trạng số 212/CT-VKS ngày 03 tháng 3 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Thị N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 phát biểu và kết luận cáo trạng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt mức án từ 09 đến 12 tháng tù.

Bị cáo Nguyễn Thị N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo có cơ hội sửa sai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát Khu vực 5 - Thành phố Hồ Chí Minh thu thập và bị cáo cung cấp đều thực hiện đúng quy trình, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó những chứng cứ tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.

Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:

Tại Cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận của các bị cáo, đối chiếu với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định:

Vào khoảng 20 giờ 50 ngày 14/12/2025, Nguyễn Thị N lợi dụng sơ hở chủ sở hữu, bị cáo N lén lút lấy 01 điện thoại Iphone 14 của chị Nông Thị B, có giá 17.500.000 đồng và bị phát hiện bắt quả tnang

Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

Hành vi Trộm cắp tài sản của Nguyễn Thị N như trên là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội. Do đó cần xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có cơ hội sửa sai.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng trong vụ án:

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro màu tím đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Nông Thị B; Người bị hại nhận lại tài sản không thắc mắc khiếu nại gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- 01 áo ngắn tay sọc caro trắng đen, 01 quần dài sọc caro trắng đen, 01 áo khoác tay dài màu đỏ, 01 đôi dép cao su màu trắng là trang phục Năm mặc khi thực hiện hành vi phạm tội. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo không nhận lại nên Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ 1 khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/12/2024

Căn cứ khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy 01 áo ngắn tay sọc caro trắng đen, 01 quần dài sọc caro trắng đen, 01 áo khoác tay dài màu đỏ, 01 đôi dép cao su màu trắng

(Theo biên bản giao nhận vật chứng 05/3/2026).

Căn cứ khoản 2 Điều 136 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thị N phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ