vanban.org

Bản án 109/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Việt H phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

[2].Về hình phạt: Áp dụng Khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Đào Việt H 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo 25/12/2025; Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Việt H phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - THÁI NGUYÊN
Bản án số: 109/2026/HS-ST
Ngày: 31/3/2026

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hạng Minh Thu

2. Bà Trần Thanh Vân

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Vĩ Hạ, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2026, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 88/2026/TLST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2026/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:

Đào Việt H, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 23/11/2007 tại: Thái Nguyên. Nơi cư trú: Xóm Cây Thống, xã Đức Lương, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đào Văn Huy (đã chết) và bà Đào Thị Loan; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án,tiền sự: Không.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 Công an tỉnh Thái Nguyên (bị bắt tạm giam từ ngày 25/12/2025). Có mặt.

* Bị hại: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 2006; Nơi thường trú: Xóm Long Vân, xã Quang Trung, tỉnh Bắc Ninh;Nơi tạm trú và chỗ ở hiện tại: Tổ dân phố Phú Xá 4, phường Tích Lương, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1980; Nơi thường trú: Thôn Nà Pàn, xã Hoa Thám, tỉnh Lạng Sơn. Có đơn xin xét xử vắng mặt

* Người làm chứng: Anh Nguyễn Ngọc Hải, sinh năm 1995; Nơi thường trú: Xóm Đình 7, xã Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên; Nơi ở hiện tại: Tổ dân phố Phú Xá 5, phường Tích Lương, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 16/12/2025, Đào Việt H đến khu công nghiệp Điềm Thụy, tỉnh Thái Nguyên để cùng anh Hoàng Văn Quang, sinh năm 2007; Nơi cư trú: Xóm Khâu Giáo 1, xã Phú Thịnh, tỉnh Thái Nguyên đi xin việc làm nhưng không xin được. Do không có việc làm nên Hùng đã cầm cố chiếc điện thoại của Hùng đang sử dụng để lấy tiền tiêu xài. Sau đó, Hùng và Quang cùng đi đến quán internet để chơi game đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày thì đi về phòng trọ của Quang tại khu vực trường Đại học Công nghiệp Thái Nguyên để nghỉ ngơi. Tuy nhiên phòng của anh Quang đã có người nên anh Quang đã gọi điện cho anh Triệu Minh Quân (Sinh năm: 2006, là bạn của Quang) để xin cho Hùng ngủ nhờ thì Quân đồng ý. Anh Quang chở Hùng đến phòng trọ của anh Quân tại tổ dân phố Phú Xá 4, phường Tích Lương, tỉnh Thái Nguyên. Tại đây, anh Quang chơi ở phòng trọ của anh Quân đến gần 01 giờ sáng ngày 17/12/2025 thì anh Quang về phòng trọ, Hùng ngủ lại phòng của anh Quân. Khi trời sáng thì anh Quân đi học cả ngày, còn Hùng ngủ tại phòng trọ một mình. Đến 15 giờ cùng ngày, Hùng mở cửa phòng trọ đi ra ngoài thì thấy có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh đen, biển kiểm soát 12B1-179.40 (là xe của anh Nguyễn Văn T, sinh năm: 2006, nơi cư trú: Tổ dân phố Phú Xá 4, phường Tích Lương, tỉnh Thái Nguyên) đang dựng ở sân trước cửa phòng trọ của anh Quân. Hùng quan sát thấy các phòng ở nhà trọ đều đóng cửa, không có người đi lại nên nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô trên để bán lấy tiền trả nợ. Hùng lén lút dắt chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12B1-179.40 ra khỏi nhà trọ, đi về phía Cổng trường Đại học Công nghiệp mục đích tìm quán sửa xe mô tô để mở khoá. Hùng đến quán sửa xe mô tô của anh Nguyễn Ngọc Hải (Sinh năm: 1995; Nơi cư trú: Tổ dân phố Phú Xá 5, phường Tích Lương, tỉnh Thái Nguyên) và nói chìa khóa xe bị rơi mất và đề nghị thay ổ khóa điện mới, nhưng do quán không có loại khoá trùng khớp nên không thay được, Hùng đã nhờ anh Hải mở ổ khóa điện để nổ máy. Khi xe nổ được máy, Hùng điều khiển xe mô tô đi về khu vực xã Điềm Thụy, tỉnh Thái Nguyên để tìm chỗ bán xe mô tô thì bị Cơ quan Công an phát hiện và đưa về trụ sở để làm việc và lập biên bản tạm giữ chiếc xe mô tô trên để giải quyết theo quy định của pháp luật. Cùng ngày, anh Nguyễn Văn T làm đơn trình báo đến Công an phường Tích Lương.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 03/KL - HĐĐGTS ngày 23/12/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự phường Tích Lương kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh đen, gắn BKS: 12B1-179.40, đã qua sử dụng trị giá 11.000.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Đào Việt H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên. Lời khai nhận của Hùng phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản làm việc, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản, lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Phần dân sự: Anh Nguyễn Văn T không yêu cầu Đào Việt H bồi thường.

Cáo trạng số 02/CT-VKSKV1 ngày 24 tháng 02 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Thái Nguyên đã truy tố Đào Việt H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa bị cáo Đào Việt H đã khai nhận rõ hành vi phạm tội như lời khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả. Bị hại là anh Nguyễn Văn L xác định bị cáo trình bày là đúng, hiện nay tài sản đã thu hồi được, anh đã nhận lại tài sản, về phần dân sự anh không có ý kiến gì, về phần hình sự anh xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Kết thúc phần thẩm vấn, tại phần tranh luận, vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1- Thái Nguyên giữ quyền công tố đã trình bày bản luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Đào Việt H phạm tội:“Trộm cắp tài sản”.

* Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51,Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Đào Việt H từ 09 đến 12 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

* Về phần dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, nên không đặt ra vấn đề giải quyết.

* Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận, bị cáo, bị hại không ai có ý kiến tranh luận, bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan. Bị cáo nói lời sau cùng ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử cho được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên và Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Thái Nguyên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đào Việt H và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng các quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn L, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ giấy triệu tập phiên tòa đối với anh Linh, tuy nhiên anh Linh có đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa, về phần dân sự anh Linh không có ý kiến đề nghị gì, do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt ông anh Linh.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã mô tả, bị cáo xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Thái Nguyên truy tố là đúng người, đúng tội, không oan. Xét thấy lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là tự nguyện, khách quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản làm việc, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản, lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 17/12/2025, tại tổ dân phố Phú Xá 4, phường Tích Lương, tỉnh Thái Nguyên, Đào Việt H đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh đen, biển kiểm soát 12B1-179.40, đã qua sử dụng, giá trị 11.000.000 đồng của anh Nguyễn Văn T. Anh Trường đã nhận lại chiếc xe mô trên và không yêu cầu Hùng bồi thường gì.

Như vậy với hành vi nêu trên của bị cáo Đào Việt H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

. Bản cáo trạng số 02/CT-VKSKV1 ngày 24/02/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên đã truy tố Đào Việt H về tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Nội dung điều 173 quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng...thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Về tính chất, mức độ của hành vi: Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ và bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi với lỗi cố ý, làm mất trật tự an toàn xã hội, bị cáo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ Luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ tội phạm do bị cáo thực hiện, sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo Đào Việt H trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, cần xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo yên tâm cải tạo tốt sớm trở về với gia đình và xã hội, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Mức hình phạt mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị trong phần luận tội là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng" do đó bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung bằng hình phạt tiền. Các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa xác định bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng của vụ án: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh đen, BKS: 12B1-179.40, đã qua sử dụng và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS 12B1-179.40 số 12002841, chủ xe Nguyễn Văn L (Sinh năm: 1980; Nơi cư trú: Thôn Nà Pàn, xã Hoa Thám, tỉnh Lạng Sơn). Số vật chứng trên đã thu hồi được và trả cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn T quản lý sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại xác định đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu đề nghị gì, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề giải quyết.

Về việc xử lý hành vi và các đối tượng có liên quan: Đối với Hoàng Văn Quang: Ngày 17/12/2025 khi Quang ở phòng trọ của anh Triệu Minh Quân thì Quang đã dùng điện thoại của Quang chơi đánh bạc tại website: 11NK88.com. Hành vi trên của Quang đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong một vụ án khác.

Trong vụ án này, Nguyễn Ngọc Hải, sinh năm 1995; Nơi thường trú: Xóm Đình 7, xã Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên; Nơi ở hiện tại: Tổ dân phố Phú Xá 5, phường Tích Lương, tỉnh Thái Nguyên là người đã giúp Hùng mở khóa điện để nổ máy chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12B1-179.40. Quá trình điều tra xác định anh Hải không biết chiếc xe trên là do Hùng phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với anh Hải là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Việt H phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

[2].Về hình phạt: Áp dụng Khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Đào Việt H 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo 25/12/2025;

Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

[3].Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6].Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ –UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

[7]. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định ./.

Cỡ chữ