vanban.org

Bản án 109/2025/HS-PT — Hình sự

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/08/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Thiện N.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 358/2025/HS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, cụ thể như sau: Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thiện N phạm tội “Giết người”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Thiện N phạm tội “Giết người”. - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Thiện N.
  • Căn cứ chính? Điều 123 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA PHÚC THẨM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 109/2025/HS-PT
Ngày 13/8/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Việt Hà;

Các Thẩm phán:

Ông Ngô Tự Học;

Ông Nguyễn Mạnh Tiến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thùy Trang, Thư ký Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh, Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 8 năm 2025, tại Trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 07/2025/TLPT-HS ngày 08 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo Đỗ Thiện N. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 358/2025/HS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

* Bị cáo có kháng cáo: Đỗ Thiện N, sinh năm 1987 tại Hà Nội; Giới tính: Nam; đăng ký thường trú và nơi cư trú: Thôn Đ, xã A, thành phố Hà Nội (trước đây là thôn Đ, xã L, huyện H, thành phố Hà Nội); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 08/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Đỗ Thiện M (đã chết) và con bà Nguyễn Thị Đ; có vợ là Hồ Thị Thanh N1 (sinh năm: 1979) và có 02 con (con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2016); tiền án, tiền sự: 01 tiền sự (Quyết định số 231/QĐ-XPHC ngày 19/5/2023 của Công an huyện H xử phạt hành chính số tiền 6.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích”); Bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/4/2024; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H. Có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo do Tòa án chỉ định: Luật sư Lê Thị Hải Y - Công ty L2 thuộc Đoàn luật sư thành phố H Có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đỗ Thiện N sống cùng mẹ là bà Nguyễn Thị Đ (sinh năm 1966) tại thôn Đ, xã L, huyện H, thành phố Hà Nội. Cuối năm 2022, do nhiều lần sử dụng ma túy trái phép nên N2 bị bệnh loạn thần, nhiều lần được điều trị bệnh tại Bệnh viện T3 và đến tháng 01/2024 được ra viện. Khoảng 07 giờ 20 phút ngày 01/4/2024, bà Đ thấy N có biểu hiện tái phát bệnh nên đã sang nhà ông Nguyễn Hưng L (sinh năm 1952 - là anh của bà Đ) ở cùng thôn Đ, xã L vay tiền để đưa N đi khám bệnh. Ông L đưa tiền cho bà Đ vay rồi cùng đi sang nhà bà Đ để xem bệnh tình của N. Khi về đến nhà, bà Đ đứng ngoài cổng, còn ông L đi vào sân thì thấy N đang nằm trên ghế trong nhà nên ông L quay ra cổng đứng nói chuyện với bà Đ. Lúc này, N đứng dạy đi từ trong nhà ra chỗ ông L đứng, dùng tay phải đấm 01 cái vào vùng thái dương bên phải và dùng chân đạp 01 phát vào vùng hông bên trái của ông L, làm ông L ngã xuống đường. Ông L đứng dậy hỏi N: “Sao mày đánh bác?”. N không nói gì mà đi vào trong nhà lấy 02 con dao quắm (gồm 01 con dao dài 86cm, lưỡi bằng kim loại dài 27cm, bản rộng nhất rộng 05cm, có một đầu cong nhọn, có chuôi dài 59cm và 01 con dao dài 88cm, lưỡi dài 28cm, bản rộng nhất rộng 05cm, một đầu cong nhọn, có chuôi dài 60cm) rồi mỗi tay cầm 01 con dao quay lại chỗ ông L. Sợ bị N đánh nên ông L và bà Đ bỏ chạy về nhà ông L và đóng cổng lại. N cầm dao đuổi theo đến cổng nhà ông L thì thấy cổng bị đóng nên dùng chân đạp vào cửa nhà ông L, rồi tiếp tục đi ra đường tìm người để chém.

Khoảng 07 giờ 45 phút cùng ngày, N đi vào tầng 01 của chung cư Đ ở số A, ngõ H, đường Đ, thôn Đ, xã L, huyện H, thành phố Hà Nội thì nhìn thấy ông Nguyễn Công H (sinh năm 1951; trú tại phòng D, chung cư Đ; là bảo vệ của chung cư) đang ngồi trong phòng bảo vệ. N tiến đến chỗ ông H ngồi và dùng tay phải cầm dao vung lên chém 01 nhát hướng từ trên xuống dưới trúng vào vùng trán bên trái của ông H, rồi cầm dao đi ra ngoài đường. Ông H cởi chiếc áo trắng đang mặc bịt vào vết thương rồi đi ra đóng cổng chung cư lại để ngăn N quay lại. Cùng lúc này, ông Vũ Mạnh T (sinh năm 1971; trú tại thôn Đ, xã L, huyện H, thành phố Hà Nội) điều khiển xe máy đi vào chung cư Đ thì bị N chặn xe lại. Khi ông T dừng lại ngồi trên xe, Nguyễn tiếp T1 dùng tay phải cầm dao chém 01 nhát trúng đỉnh đầu bên phải của ông T, làm ông T ngã xuống đường. Sau đó, ông T đứng dậy ôm đầu đi vào trong chung cư, cùng ông H đóng cổng lại. N tiếp tục cầm 02 con dao đứng ở đường thì nhìn thấy anh Nguyễn Đình T2 (sinh năm 1994; trú tại thôn Đ, xã L, huyện H, thành phố Hà Nội) điều khiển xe máy đi qua. N vung con dao cầm trên tay phải chém 01 nhát hướng từ trên xuống dưới về phía đầu anh T2. Theo phản xạ, anh T2 nghiêng người sang phải để tránh nên bị chém trúng vào vùng mạn sườn bên trái và phóng xe máy bỏ chạy được. Sau khi chém anh T2 xong, N quay về ngồi ở cổng nhà mình tiếp tục cầm dao dọa chém người đi qua đường thì bị người dân và lực lượng Công an xã L khống chế, đưa đến trụ sở Công an xã L giải quyết. Ông T và ông H được mọi người đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đ1. Ông T điều trị từ ngày 01/4/2024 đến ngày 11/4/2024 được ra viện, còn ông H điều trị từ ngày 01/4/2024 đến ngày 05/4/2024 thì ra viện. Sau khi xảy ra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật chứng, trưng cầu giám định thương tích đối với ông Vũ Mạnh T và ông Nguyễn Công H. Kết quả như sau:

Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ án hồi 11 giờ 30 phút ngày 01/4/2024, thể hiện:

“… Hiện trường nơi xảy ra sự việc được xác định tại chung cư Đ, ở số A, ngõ H, đường Đ, thôn Đ, xã L, huyện H, thành phố Hà Nội. Phía bắc tiếp giáp với nhà Đỗ Thiện N, phía Đông tiếp giáp với đường Đ, phía nam tiếp giáp với đường N đường Đ, phía tây tiếp giáp với nhà anh Nguyễn Quang H1.

Chung cư Đ được thiết kế 09 tầng có cổng ra vào nhìn về phía Đông, cồng gồm 04 cánh mở ra ngoài được làm bằng các thanh kim loại hình hộp đan xen cách đều nhau, kích thước cổng (3,0x2,97)m. Tầng 1 sử dụng là nơi để xe, từ tầng 2 đến tầng 9 thiết kế phòng ở cho các hộ dân.

- Khám nghiệm hiện trường theo chỉ dẫn của ông Nguyễn Công H xác định: Phòng bảo vệ của chung cư Đ được thiết kế sát tường phía Đông và tường phía Bắc bên trong tầng 1. Phòng có 01 cửa ra vào nhìn về hướng Nam, cửa gồm 01 cánh mở vào trong được làm bằng khung nhôm có ô kính, kích thước (02x0.62)m, phòng bảo vệ có chiều dài 2,8m, chiều rộng 2,7m. Bên trong phòng tại vị trí cách tường phía đông 1,03m và sát tường phía nam được kê 01 ghế xoay, vị trí này là nơi ông Nguyễn Công H ngồi và bị Đỗ Thiện N dùng dao chém gây thương tích ở vùng đầu (vị trí số 01).

- Đường Đ phía trước cửa chung cư được trải nhựa áp phan thẳng phẳng, trên nền đường tại vị trí cách tường nhà chung cư về phía Đông 0,9m và cách điểm đầu ngách H đường Đ về phía Bắc 5,1m là vị trí ông Vũ Mạnh T bị Đỗ Thiện N dùng dao chém gây thương tích ở vùng đầu (vị trí số 2).

- Mở rộng khám nghiệm hiện trường xác định: Ngôi nhà 03 tầng tại số B, ngõ H, đường Đ cách chung cư Đ về hướng Bắc 13m của chị Nguyễn Thị D (sinh năm 1986; trú tại thôn Đ, xã L, huyện H, Hà Nội) phía Bắc giáp với nhà bà Nguyễn Thị L1, phía Nam tiếp giáp với nhà chị Nguyễn Hà D1 và phía Tây tiếp giáp với đường N, đường Đ. Ngôi nhà có 01 cửa ra vào nhìn về hướng Tây, cửa gồm 04 cánh mở vào trong, kích thước (3,34x2,5)m, cửa làm bằng khung nhôm, có ô kính. Hai cánh cửa ngoài cùng tiếp giáp với hai bên tường nhà, có 03 ô kính, không có dấu vết gì. Cánh cửa thứ hai bên trái ngôi nhà thiết kế 02 ô kính đều có kích thước (1,13x0,645)m, ô kính phía trên phát hiện dấu vết thủng, vỡ, tập trung rạn nứt toàn bộ ô kính. Ô kính dày 05mm, kính trong, lỗ thủng kính dài 07cm, rộng 0,3cm”...

Vật chứng vụ án:

Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ các vật chứng, dấu vết và đồ vật liên quan gồm:

- Thu giữ trong khi bắt giữ Đỗ Thiện N: 01 con dao quắm làm bằng kim loại có tổng chiều dài 86cm, lưỡi dao dài 27cm hoen gỉ, bản rộng nhất rộng 05cm, một đầu dao cong nhọn, chuôi dao hình trụ tròn dài 59cm, đường kính chuôi dao 02cm và 01 con dao quắm làm bằng kim loại có tổng chiều dài 88cm, lưỡi dao dài 28cm hoen gỉ, bản rộng nhất rộng 05cm, một đầu dao cong nhọn, chuôi dao hình trụ tròn dài 60cm, đường kính chuôi dao 02cm.

- Thu giữ do ông Nguyễn Công H giao nộp: 01 chiếc áo phông cộc tay màu trắng cổ tròn, trên áo có mác ghi Hanosimex, hai mặt của áo có bám dính chất màu nâu đỏ.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 420/KLTTCT-TTPY ngày 05/4/2024 của Trung tâm P - Sở Y tế thành phố P về thương tích của ông Nguyễn Công H, như sau:

“… IV. Kết luận:

1. Các kết quả chính:

1.1. Vết thương vùng trán trái: 06%;

1.2. Vỡ xương vùng trán trái: 08%;

1.3. Tụ máu ngoài màng cứng vùng trán trái: 11%;

1.4. Xuất huyết dưới nhện vùng trán trái hiện không rõ trên phim cắt lớp vi tính sọ não của Bệnh viện Đ1, cần hội chẩn chuyên khoa và hiện chưa đánh giá được hết mức độ di chứng, biến chứng của các tổn thương. Đề nghị giám định bổ sung sau khi bệnh nhẫn điều trị ổn định ra viện.

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Công H tại thời điểm giám định là 23%. Cơ chế hình thành thương tích do vật có cạnh sắc gây nên”...

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 421/KLTTCT-TTPY, ngày 05/4/2024 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế thành phố P về thương tích của ông Vũ Mạnh T, như sau:

“… IV. Kết luận:

1. Các kết quả chính:

1.1. Vết thương, vết mổ vùng đỉnh phải: 03%;

1.2. Vết dẫn lưu vùng đỉnh phải: 01%;

1.3. Vỡ lún xương đỉnh phải đã phẫu thuật lấy bỏ xương lún vỡ để lại ổ khuyết sọ >2cm: 26%;

1.4. Xuất huyết dưới nhện vùng đỉnh phải: 08%.

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ của ông Vũ Mạnh T tại thời điểm giám định là 35%.

Cơ chế hình thành thương tích do vật có cạnh sắc gây nên. Hiện chưa đánh giá được hết mức độ di chứng và biến chứng của các tổn thương. Đề nghị giám định bổ sung sau khi bệnh nhân điều trị ổn định ra viện”...

Quá trình điều tra vụ án, do vết thương đã ổn định nên ông Nguyễn Công H và ông Vũ Mạnh T đã từ chối giám định bổ sung thương tích.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 199/KL-HĐĐGTS ngày 15/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện H đối với tấm kính cửa nhà chị Nguyễn Thị D bị hỏng, như sau: “…01 tấm kính cường lực kích thước (60x120)cm, dày 0,5mm được lắp đặt vào năm 2017 bị hư hỏng hoàn toàn (thay mới) trị giá 254.000 đồng”...

Tại bản Kết luận giám định số 4286/KL-KTHS ngày 12/7/2024 của V

- Bộ C đối với dấu vết sinh học trên vật chứng thu giữ được, như sau:

“… V. Kết luận về đối tượng giám định.

1. Không phát hiện thấy máu bám dính trên 02 con dao thu giữ của Đỗ Thiện N;

2. Trên chiếc áo phông do ông Nguyễn Công H giao nộp có bám dính máu của ông Nguyễn Công H …”

Quá trình điều tra vụ án, bị can Đỗ Thiện N có biểu hiện mắc bệnh tâm thần nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã quyết định trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với N.

Tại bản Kết luận giám định số 335/KLGĐ ngày 27/11/2024 của V1 - Bộ Y1, xác định:

“… Đỗ Thiện N bắt đầu sử dụng ma túy đá từ năm 2019, đến năm 2020 thì sử dụng thường xuyên. Khi sử dụng ma túy đá vào thấy hưng phấn, sảng khoái, cơ thể khỏe khoắn, không cần ngủ. Khi không sử dụng ma túy thì xuất hiện hội chứng cai ma túy. Đến cuối năm 2022 và đầu năm 2023 thì xuất hiện ảo thị (nhìn thấy ma quỷ), xuất hiện ảo thanh đàm thoại, ảo thanh xui khiến, gia đình cho đi điều trị bệnh tâm thần.

III. Kết luận:

Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định, bị can Đỗ Thiện N bị bệnh trạng thái loạn thần di chứng và khởi phát muộn do sử dụng các chất gây ảo giác. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F16.75.

Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội ngày 01/4/2024, rối loạn tâm thần mức độ nặng. Bị can mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Tại thời điểm giám định, bệnh của bị can ở giai đoạn ổn định, bị can đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”...

Đối anh Nguyễn Đình T2 bị Đỗ Thiện N dùng dao chém gây ra vết thương thâm tím mạn sườn bên trái. Quá trình điều tra vụ án, do thương tích nhẹ nên anh T2 từ chối giám định thương tích và không yêu cầu bị can N phải bồi thường tiền điều trị thương tích nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với ông Nguyễn Hưng L, bị N dùng chân tay đánh vào đầu và hông nhưng không gây thương tích. Tại Cơ quan điều tra, ông L không yêu cầu xử lý bị can N và không yêu cầu bồi thường dân sự nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý N về hành vi trên.

Đối với tấm kính trên cánh cửa nhà của chị Nguyễn Thị D bị hư hỏng. Tại Cơ quan điều tra, chị D khai khoảng 07 giờ 45 phút ngày 01/4/2024 đang ở nhà thì nghe thấy tiếng kính vỡ. Chị D đi xuống nhà để xem nhưng không thấy ai đứng trước cửa nhà, mà chỉ thấy N cầm dao ngồi ở trước cửa nhà N. Chị D không biết ai đã làm hỏng kính cửa và không yêu cầu phải bồi thường, còn Đỗ Thiện N khai không đập vỡ cửa nhà chị D. Do không xác định được đối tượng đã làm vỡ tấm kính cửa nhà chị D nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra vụ án, ông Nguyễn Công H yêu cầu bị cáo Đỗ Thiện N phải bồi thường tiền điều trị thương tích là 141.000.000 đồng; ông Vũ Mạnh T yêu cầu bị can N phải bồi thường tiền điều trị thương tích là 200.000.000 đồng và đề nghị xử lý bị can N theo pháp luật. Hiện bị can N chưa bồi thường cho các bị hại.

Tại Bản cáo trạng số 213/CT-VKSHN-P2 ngày 14 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Đỗ Thiện N có lý lịch nêu trên về tội: Giết người theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 358/2025/HS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thiện N phạm tội “Giết người”.

Căn cứ điểm a, n khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Đỗ Thiện N 17 (mười bảy) năm tù. Thời gian thi hành án phạt tù tính từ ngày 01/4/2024.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm quyết định về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 06/6/2025, bị cáo Đỗ Thiện N kháng cáo xin giảm hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Đỗ Thiện N thay đổi nội dung kháng cáo từ xin giảm nhẹ hình phạt sang kêu oan, hành vi không đúng với cáo trạng. Trong giai đoạn điều tra, bị cáo chưa được cơ quan điều tra cho xem kết quả giám định ngày 27/11/2024; về đoạn video bị cáo chém người, bị cáo bị tâm thần nên không có ký ức là bị cáo chém người nên muốn xem đoạn video đó, dao không dính máu. Bị cáo yêu cầu phải có nguồn chứng minh chém 2 người đó thì tôi sẽ nhận tội. Nếu bị cáo có chém người thì bị cáo yêu cầu xin giảm tiền đền bù vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, hiện có mẹ già và 2 con nhỏ.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Thưa Hội đồng xét xử, bị cáo có yêu cầu kháng cáo là kêu oan. Thực tế tôi đang hiểu bị cáo nói là không thừa nhận hành vi phạm tội là không chính xác. Bị cáo có thừa nhận, do bị cáo bị mắc bệnh loạn thần và thực tế, bị cáo đã điều trị. Đây cũng là di chứng của bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã bị mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Bị cáo cũng đã khai rất rõ là bị cáo có nhớ là chém anh T2 còn những người khác bị cáo không nhớ. Đây cũng coi là lời khai thành khẩn và phù hợp nhưng nhận thức của bị cáo cho rằng là bị cáo không nhớ nên bị cáo không làm, không thực hiện hành vi. Trong phiên tòa phúc thẩm, bị cáo kêu oan, thực ra bị cáo có hiểu hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và bị cáo cũng đã nói rằng nếu tôi chém người thì cũng xin giảm cả phần trách nhiệm dân sự do hoàn cảnh gia đình của bị cáo khó khăn. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cân nhắc, nguyện vọng của bị cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đúng với tính chất hành vi của bị cáo. Tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi là mất khả năng nhận thức, điều khiển hành vi. Tôi đề nghị xem xét điểm s, điểm q khoản 1 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo dưới khung hình phạt.

Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội:

- Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng và đầy đủ quy định của pháp luật. Đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định, hình thức nội dung phù hợp nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

- Về nội dung: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo sang kêu oan. Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả xét hỏi tại phiên tòa ngày hôm nay, nhận thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội, xem xét đầy đủ các yếu tố về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, xử bị cáo 17 năm tù về tội “Giết người” theo điểm a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo kháng cáo kêu oan, không thừa nhận hành vi phạm tội. Tuy nhiên bị cáo không xuất trình tài liệu, chứng cứ mới làm căn cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo nên không có căn cứ xem xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo. Từ những căn cứ trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Về thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi tố tụng và quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Kháng cáo của bị cáo Đỗ Thiện N trong hạn luật định, hình thức và nội dung phù hợp, đủ điều kiện xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung: Xét kháng cáo xin kêu oan của bị cáo Đỗ Thiện N, Hội đồng xét xử thấy:

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đỗ Thiện N không thừa nhận hành vi phạm tội như Tòa án sơ thẩm đã quy kết. Tuy nhiên căn cứ lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm, lời khai của các bị hại, biên bản khám xét, thu giữ vật chứng, kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Đỗ Thiện N bị rối loạn loạn thần do sử dụng ma túy, khoảng 07 giờ 45 phút ngày 01/4/2024, N cầm 02 con dao quắm bằng kim loại đi từ nhà đến tầng 01 của chung cư Đ tại số nhà A, ngõ H, đường Đ, thôn Đ, xã L, huyện H, thành phố Hà Nội. Tại phòng bảo vệ của chung cư, N dùng con dao đang cầm trên tay phải chém 01 nhát trúng vào vùng trán của ông Nguyễn Công H (là bảo vệ của chung cư Đ) làm ông H bị vỡ xương vùng trán trải, tụ máu ngoài màng cứng và xuất huyết dưới nhện vùng trán trái. Sau đó, N cầm dao ra đứng trước chung cư Đ chặn xe máy của ông Vũ Mạnh T và cầm con dao trên tay phải chém 01 nhát trúng đỉnh đầu bên phải của ông T, làm ông T bị vỡ lún xương đỉnh phải, xuất huyết dưới nhện vùng đỉnh phải. Thấy anh Nguyễn Đình T2 điều khiển xe máy đi qua, N tiếp tục cầm con dao trên tay phải chém 01 nhát trúng người anh T2, làm anh T2 bị thâm tím vùng mạn sườn bên trái. Do được cấp cứu và điều trị kịp thời nên ông H và ông T không tử vong nhưng ông H bị tổn hại 23% sức khỏe và ông T bị tổn hại 35% sức khỏe.

Từ những phân tích nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đỗ Thiện N về tội “Giết người” theo điểm a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.

Về mức hình phạt:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, dùng hung khí nguy hiểm chém vào phần trọng yếu trên cơ thể của bị hại, do được cấp cứu kịp thời nên ông H, anh T chưa nguy hiểm đến tính mạng, hành vi đó đã xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, việc xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự đối với bị cáo là cần thiết.

Tòa án sơ thẩm đã căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử đã làm rõ hành vi phạm tội của bị cáo và vai trò của bị cáo; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo bị cáo Đỗ Thiện N là người có nhân thân xấu, có 01 tiền sự (Quyết định số 231/QĐ-XPHC ngày 19/5/2023 của Công an huyện H xử phạt hành chính số tiền 6.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích”). Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội hai lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, xử phạt bị cáo Đỗ Thiện N 17 (mười bảy) năm tù là có căn cứ pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới. Do vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo.

Đề nghị của vị đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội là có căn cứ, phù hợp với nhận định trên nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Thiện N.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 358/2025/HS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, cụ thể như sau:

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thiện N phạm tội “Giết người”.

Căn cứ điểm a, n khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Đỗ Thiện N 17 (mười bảy) năm tù. Thời gian thi hành án phạt tù tính từ ngày 01/4/2024.

2. Về án phí: Bị cáo Đỗ Thiện N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ