- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Hoàng Thị D yêu cầu xin ly hôn với ông Huỳnh Minh T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Hoàng Thị D. Bà Hoàng Thị D được ly hôn với ông Huỳnh Minh T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 109/2025/HNGĐ-ST Ngày: 05/5/2025 V/v :“Tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Hồng Ngọc
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Vương Thị Khánh Loan
2. Bà Thiều Thị Phi Loan
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Thu Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên .
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên , tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đông – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 05 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 2552/2024/TLST- HNGĐ, ngày 07 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 03 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 166/2025/QĐST-HNGĐ ngày 18/04/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị D, sinh năm 1972
Địa chỉ: A, Khu phố B, phường BH, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
- Bị đơn: Ông Huỳnh Minh T, sinh năm 1970.
Địa chỉ: A, Khu phố B, phường BH, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
(Các đương sự vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình tiến hành tố tụng bà Hoàng Thị D trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Huỳnh Minh T đăng ký kết hôn với nhau tại UBND phường BH, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận kết hôn số 32, quyển số: I/2000, ngày 26/04/2000. Hôn nhân tự nguyện, ông bà sống hạnh phúc trong thời gian đầu kết hôn, nhưng về sau thì phát sinh mâu thuẫn. Từ khi kết hôn vợ chồng ông bà đã có những mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân nhưng cả hai đã cố gắng khắc phục để tiếp tục cuộc sống vợ chồng. Thế nhưng những mâu thuẫn đó ngày càng trầm trọng và gay gắt hơn. Nguyên nhân xuất phát từ việc vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hòa hợp và không còn thương yêu nhau. Nay xét thấy, mâu thuẫn giữa hai vợ chồng đã hết sức trầm trọng không còn khả năng hàn gắn, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích xây dựng cuộc hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà làm đơn này đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xem xét giải quyết cho bà được ly hôn với ông Huỳnh Minh T để hai bên ổn định cuộc sống.
- Về con chung: có 02 con chung là cháu Huỳnh Minh T1 sinh ngày 04/05/2002 và cháu Huỳnh Minh T2 sinh ngày 05/12/2008. Ly hôn bà xin nuôi dưỡng cháu Huỳnh Minh T2 và tạm thời không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con. Cháu Huỳnh Minh T1 nay đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về Nợ chung: Bà cam kết vợ chồng bà không có nợ chung nên không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về án phí: Bà Dung xin tự nguyện chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho ông Huỳnh Minh T nhưng ông Huỳnh Minh T không gửi cho Tòa án ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị D và cũng không giao nộp tài liệu, chứng cứ. Tòa án đã nhiều lần tống đạt thông báo, giấy triệu tập mời Huỳnh Minh T đến Tòa án để lấy lời khai đối chất; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Huỳnh Minh T không đến Tòa án làm việc.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát: Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật về tố tụng, bảo đảm sự vô tư, khách quan trong việc giải quyết vụ án. Về nội dung tranh chấp: Cuộc sống hôn nhân của bà Hoàng Thị D và ông Huỳnh Minh T không có hạnh phúc, không ai còn quan tâm đến ai. Do mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Hoàng Thị D. Bà Hoàng Thị D khai có 02 con chung là cháu Huỳnh Minh T1 sinh ngày 04/05/2002 và cháu Huỳnh Minh T2 sinh ngày 05/12/2008. Ly hôn bà Hoàng Thị D xin nuôi dưỡng cháu Huỳnh Minh T2 và tạm thời không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con. Cháu Huỳnh Minh T1 nay đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết. Cháu Huỳnh Minh T2 có ý kiến xin được ở cùng mẹ là bà Dung và ông Huỳnh Minh T cũng không có ý kiến nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Huỳnh Minh T2 sinh ngày 05/12/2008 cho bà Hoàng Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục và tạm thời ông Huỳnh Minh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Bà Hoàng Thị D khai tài sản chung tự thỏa thuận và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông Huỳnh Minh T cũng không có ý kiến về tài sản chung và nợ chung nên đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bà Hoàng Thị D và ông Huỳnh Minh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn, đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Ông Huỳnh Minh T hiện đang sinh sống tại thành phố Biên Hòa nên đơn xin ly hôn của bà Hoàng Thị D thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa. Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Huỳnh Minh T “Thông báo thụ lý vụ án”,“Giấy triệu tập”, “Thông báo thu thập được chứng cứ”,“Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai tiếp cận chứng cứ và hòa giải” nhưng ông Huỳnh Minh T vẫn không đến Tòa án làm việc. Do ông Huỳnh Minh T đã được thông báo nhiều lần nhưng vẫn không đến tham gia phiên họp và hòa giải nên Tòa án đã lập biên bản ghi nhận việc không thể tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai tiếp cận chứng cứ và hòa giải được, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa do vắng mặt ông Huỳnh Minh T cũng đã được tiến hành tống đạt theo đúng quy định của pháp luật. Như vậy, ông Huỳnh Minh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Huỳnh Minh T vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Huỳnh Minh T theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Bà Hoàng Thị D là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Về nội dung tranh chấp: Bà Hoàng Thị D yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Minh T. Về con chung bà Hoàng Thị D khai có 02 con chung là cháu Huỳnh Minh T1 sinh ngày 04/05/2002 và cháu Huỳnh Minh T2 sinh ngày 05/12/2008, ly hôn bà Dung xin nuôi dưỡng cháu Huỳnh Minh T2 và tạm thời không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con. Cháu Huỳnh Minh T1 nay đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung tự thoả thuận và bà Hoàng Thị D cam kết hai vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Các nội dung này đã được Tòa án ghi rõ trong các Thông báo mà ông Huỳnh Minh T đã được niêm yết hợp lệ nhưng ông Huỳnh Minh T không có ý kiến phản đối, không giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ để giải quyết vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Trên cơ sở lời khai, lời trình bày của bà Hoàng Thị D và kết quả xác minh tại địa phương thì thấy ông Huỳnh Minh T và bà Hoàng Thị D cuộc sống chung không có sự yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Trên thực tế, bà Hoàng Thị D và ông Huỳnh Minh T không ai còn quan tâm đến ai. Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai tiếp cận chứng cứ và hòa giải cho ông Huỳnh Minh T để tiến hành hòa giải nhưng ông Huỳnh Minh T không đến, cho thấy ông Huỳnh Minh T không có thiện chí đoàn tụ với bà Hoàng Thị D. Do vậy yêu cầu của bà Hoàng Thị D về việc xin ly hôn với ông Huỳnh Minh T là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Bà Hoàng Thị D khai có 02 con chung là cháu Huỳnh Minh T1 sinh ngày 04/05/2002 và cháu Huỳnh Minh T2 sinh ngày 05/12/2008. Cháu Huỳnh Minh T2 có nguyện vọng ở với mẹ và bà Dung cũng xin được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Huỳnh Minh T2 và tạm thời không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con. Cháu Huỳnh Minh T1 nay đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết. Ông Huỳnh Minh T không có ý kiến về con chung nên Hội đồng xét xử giao cháu Huỳnh Minh T2, sinh ngày 05/12/2008 cho bà Hoàng Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Do bà Hoàng Thị D không yêu cầu nên ông Huỳnh Minh T tạm thời không phải cấp dưỡng nuôi con. Riêng cháu Huỳnh Minh T1 đã trưởng thành nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Bà Hoàng Thị D khai tự thỏa thuận và ông Huỳnh Minh T không có ý kiến nên Tòa án không giải quyết về tài sản chung của bà Hoàng Thị D và ông Huỳnh Minh T trong vụ án này.
Về nợ chung: Bà Hoàng Thị D khai không có nợ chung và ông Huỳnh Minh T không có ý kiến nên Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Về án phí: Bà Hoàng Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn được quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Áp dụng khoản 2 Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 119 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Hoàng Thị D. Bà Hoàng Thị D được ly hôn với ông Huỳnh Minh T.
2. Về con chung: Giao cháu Huỳnh Minh T2 sinh ngày 05/12/2008 cho bà Hoàng Thị D được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời ông Huỳnh Minh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Riêng cháu Huỳnh Minh T1, sinh ngày 04/05/2002 nay đã trưởng thành nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Ông Huỳnh Minh T được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các đương sự được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về tài sản chung: Bà Hoàng Thị D khai tự thoả thuận và ông Huỳnh Minh T không có ý kiến nên Tòa án không giải quyết về tài sản chung trong vụ án này.
4. Về nợ chung: Bà Hoàng Thị D khai không có và ông Huỳnh Minh T không có ý kiến nên Tòa án không giải quyết về nợ chung của bà Hoàng Thị D và ông Huỳnh Minh T trong vụ án này.
5. Về án phí: Bà Hoàng Thị D phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Số tiền này được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí bà Hoàng Thị D đã nộp theo biên lai thu số: 0004423 ngày 25/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa. Bà Hoàng Thị D đã nộp đủ án phí.
Bà Hoàng Thị D và ông Huỳnh Minh T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Đồng Nai; -VKSND TP Biên Hòa; -VKSND tỉnh Đồng Nai; -Các đương sự; -Thi hành án; -Lưu hồ sơ, Vp; - Cơ quan cấp giấy chứng nhận kết hôn) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Hồng Ngọc |