- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản — án dân sự — "Công ty cổ phần Sawad Tiền Có Ngay - Nguyễn Thị Hường Chị"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần S Có Ngay đối với bà Nguyễn Thị H Chị.
- Căn cứ chính? Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHU VỰC 10 – AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 109/2025/DS-ST Ngày: 29 - 9 - 2025 V/v: “Tranh chấp hợp đồng cầm cố; hợp đồng mượn tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Bé Thi.
- Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Ngọc Nam và ông Trần Quang Thái.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 – An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - An Giang: Bà Nguyễn Thị Diệu – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 141/2025/TLST-DS ngày 28 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng cầm cố; hợp đồng mượn tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 246/2025/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty cổ phần S;
Địa chỉ trụ sở: Số A N, phường T, tỉnh Nghệ An.
Đại diện theo pháp luật: Ông KANOKWATPAISAL NAPAT – Chức vụ: Giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Đỗ Hồng T, sinh năm 1992; địa chỉ: Ấp S, xã Ó, tỉnh An Giang (Theo giấy ủy quyền ngày 01-12-2024) (có mặt);
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hường C, sinh năm 1989 (vắng mặt);
CCCD số: xxxxxxxxxxxx.
Địa chỉ: Ấp T, xã V, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty Cổ phần S Có Ngay là bà Đỗ Hồng T trình bày:
Ngày 27-3-2024, bà Nguyễn Thị H Chị có ký kết hợp đồng cầm cố số SNM24030107NA23X với Công ty Cổ phần S (gọi tắt là Công ty); theo đó, tài sản cầm cố là 01 xe mô tô biển số 67M1-982.67; số tiền cầm cố tài sản bà Hường C đã nhận là 21.000.000 đồng; thời hạn cầm cố 24 tháng; thời hạn thanh toán định kỳ hàng tháng (bao gồm gốc và lãi trong hạn); lãi suất cầm cố và các khoản phí được hai bên thỏa thuận như sau: Lãi suất cầm cố bằng 1,1%/tháng số tiền cầm cố, lãi suất quá hạn bằng 150% số tiền quá hạn thanh toán/tháng tính từ thời điểm phát sinh nợ quá hạn, phí quản lý hồ sơ cố định bằng 0,5% số tiền cầm cố/tháng, phí phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm. Ngoài ra, bà Hường C ký giấy mượn lại xe đã cầm cố trên từ Công ty để làm phương tiện đi lại; theo thỏa thuận giữa hai bên thì bà H Chị phải chịu phí mượn xe là 5% số tiền cầm cố/tháng. Cùng ngày 27-3-2024, bà Hường C đã nhận đủ số tiền cầm cố là 21.000.000 đồng và đã được giao lại xe mô tô trên để sử dụng theo như thỏa thuận.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng cầm cố và giấy mượn xe, bà H Chị thanh toán được cho Công ty số tiền 6.348.000 đồng; trong đó, tiền gốc là 2.366.609 đồng, lãi là 775.599 đồng, phí quản lý hồ sơ là 303.292 đồng, phí mượn xe là 2.902.500 đồng. Sau đó, bà H Chị không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng theo cam kết trong hợp đồng cầm cố, giấy mượn xe nữa và đã vi phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty, công ty đã nhiều lần gọi điện, cử nhân viên đến gặp trực tiếp bà H Chị để yêu cầu bà thực hiện các nghĩa vụ theo Hợp đồng cầm cố đã ký hoặc bàn giao tài sản cầm cố đã mượn lại của Công ty để đảm bảo cho khoản cầm cố của bà với Công ty. Mặc dù đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở nhưng bà H Chị vẫn không hợp tác và không có thiện chí để thực hiện các nghĩa vụ theo Hợp đồng đã ký.
Tính đến ngày 29-9-2025, bà H Chị còn nợ Công ty số tiền gốc là 18.633.391 đồng, lãi trong hạn là 1.958.360 đồng, lãi quá hạn là 3.154.490 đồng, phí mượn xe là 9.720.000 đồng.
Nay Công ty khởi kiện yêu cầu bà H Chị trả số tiền gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, phí mượn xe tính đến ngày 29-9-2025, tổng cộng là 33.466.241 đồng và tiếp tục trả lãi quá hạn theo hợp đồng cầm cố đã thỏa thuận tính từ ngày 30-9-2025 cho đến khi bà H Chị thanh toán xong các khoản nợ cho Công ty. Ngoài ra, Công ty không yêu cầu bà H Chị trả các khoản phí khác đã thỏa thuận theo hợp đồng.
* Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị H Chị:
Trong quá trình tố tụng bà H Chị vắng mặt, Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn (nay là Tòa án nhân dân khu vực 10 – An Giang) đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, đồng thời triệu tập bà H Chị tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến, không có yêu cầu phản tố đối với yêu cầu của Công ty Cổ phần S Có Ngay.
Tại phiên tòa, bà T là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bà H Chị vắng mặt không có lý do.
* Ý kiến của Kiểm sát viên tham dự phiên tòa:
- Về tố tụng, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Thẩm phán, Thư ký chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bà Nguyễn Thị H Chị phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty số tiền tạm tính đến ngày 29-9-2025, tổng cộng là 33.466.241 đồng; trong đó tiền gốc là 18.633.391 đồng, lãi trong hạn là 1.958.360 đồng, lãi quá hạn là 3.154.490 đồng, phí mượn xe là 9.720.000 đồng và tiếp tục trả lãi quá hạn theo hợp đồng cầm cố đã thỏa thuận tính từ ngày 30-9-2025 cho đến khi bà H Chị thanh toán xong các khoản nợ cho Công ty.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về áp dụng pháp luật tố tụng: Công ty Cổ phần S Có Ngay khởi kiện bà Nguyễn Thị H Chị phải trả khoản nợ, phí mượn xe theo hợp đồng cầm cố và giấy mượn xe cùng ngày 27-3-2024. Bà H Chị có nơi cư trú tại ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (nay là ấp T, xã V, tỉnh An Giang). Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hợp đồng cầm cố và hợp đồng mượn tài sản thuộc loại vụ việc tranh chấp về hợp đồng dân sự được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn (nay là Tòa án nhân dân khu vực 10 - An Giang) theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc vắng mặt của đương sự: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Công ty Cổ phần S Có Ngay yêu cầu bà Nguyễn Thị H Chị phải thanh toán cho Công ty số tiền gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, phí mượn xe tạm tính đến ngày 29-9-2025 là 33.466.241 đồng và tiếp tục trả lãi quá hạn theo hợp đồng cầm cố đã thỏa thuận tính từ ngày 30-9-2025 cho đến khi bà H Chị thanh toán xong các khoản nợ cho Công ty. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, Công ty cung cấp chứng cứ là bản sao hợp đồng cầm cố số SNM24030107NA23X và giấy mượn xe cùng ngày 27-3-2024. Xét thấy, ngày 27-3-2024 bà H Chị và Công ty đã tự nguyện thỏa thuận giao kết và ký kết hợp đồng cầm cố, giấy mượn xe đối với 01 xe mô tô biển số 67M1-982.67; nhãn hiệu Honda; loại xe Future F1; số khung RLHJC7651PY147768; số máy JC90E0479520 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 000982 cấp ngày 01-8-2023 đứng tên bà Nguyễn Thị H Chị nên có căn cứ xác định giữa bà H Chị với Công ty có giao dịch cầm cố tài sản và mượn tài sản phù hợp với quy định của pháp luật tại khoản 1 Điều 275, Điều 309, khoản 3 Điều 314, Điều 494 của Bộ luật Dân sự. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà H chị đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Công ty yêu cầu bà thanh toán số tiền tính đến ngày 29-9-2025 là 33.466.241 đồng; trong đó tiền gốc là 18.633.391 đồng, lãi trong hạn là 1.958.360 đồng, lãi quá hạn là 3.154.490 đồng, phí mượn xe là 9.720.000 đồng và tiền lãi quá hạn tiếp theo kể từ ngày 30-9-2025 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ là phù hợp với Điều 280, Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự; Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với bà H Chị là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và phiên tòa xét xử, không gửi cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của bà, không giao nộp các tài liệu, chứng cứ chứng minh để tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án là phù hợp với quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của Công ty được chấp nhận nên bà H Chị phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - An Giang là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Các Điều 117; Điều 309, Điều 310; Điều 311; Điều 313; Điều 314; Điều 316; Điều 357; Điều 466; Điều 468; Điều 494 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần S Có Ngay đối với bà Nguyễn Thị H Chị.
Buộc bà Nguyễn Thị H Chị phải có trách nhiệm thanh toán cho Công ty Cổ phần S Có Ngay số tiền tạm tính đến ngày 29-9-2025 là 33.466.241 đồng (Ba mươi ba triệu bốn trăm sáu mươi sáu nghìn hai trăm bốn mươi mốt đồng); trong đó tiền gốc là 18.633.391 đồng (Mười tám triệu sáu trăm ba mươi ba nghìn ba trăm chín mươi mốt đồng); tiền lãi trong hạn là 1.958.360 đồng (Một triệu chín trăm năm mươi tám nghìn ba trăm sáu mươi đồng); tiền lãi quá hạn là 3.154.490 đồng (Ba triệu một trăm năm mươi bốn nghìn bốn trăm chín mươi đồng); phí mượn xe là 9.720.000 đồng (Chín triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 30-9-2025), bà Nguyễn Thị H Chị còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cầm cố ngày 27-3-2024 cho đến khi bà Nguyễn Thị H Chị thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
Trường hợp bà Nguyễn Thị H Chị thanh toán xong toàn bộ khoản nợ thì buộc Công ty Cổ phần S Có Ngay phải có trách nhiệm xóa đăng ký giao dịch bảo đảm, hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị H Chị 01 (một) bản chính Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 67000982 cấp ngày 01-8-2023 đứng tên bà Nguyễn Thị H Chị.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị H Chị phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 1.673.312 đồng (Một triệu sáu trăm bảy mươi ba nghìn ba trăm mười hai đồng).
Hoàn trả cho Công ty Cổ phần S Có Ngay số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 860.739 đồng (T1 trăm sáu mươi nghìn bảy trăm ba mươi chín đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0021270 ngày 27-5-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10 – Thi hành án dân sự tỉnh An Giang).
3. Về quyền kháng cáo:
Công ty Cổ phần S Có Ngay được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Nguyễn Thị H Chị được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh An Giang; - VKSND khu vực 10 – An Giang; - Phòng THADS khu vực 10 – An Giang; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Bé Thi |