vanban.org

Bản án 109/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 23/05/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 Về tội danh và hình phạt

Căn c điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ lu t Hình sự: Tuyên bố bị cáo ường Văn phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn L+ĐP - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1 Về tội danh và hình phạt
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TC
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 109/2024/HSST
Ngày 23-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà ò Mai iêng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Thiệp và ông Nguyễn Quang Đạt.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Mai- Thư ký Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn a

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện TC tham gia phiên toà: Bà Bạc Thị Thoản- Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân huyện TC, tỉnh Sơn a xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 105/2024/TLST-HS, ngày 25 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2024/QĐ ST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Lường Văn L, tên gọi khác: Không; sinh năm 1986, tại huyện TC, tỉnh Sơn a; nơi cư trú: bản Nà ạn, xã TL, huyện TC, tỉnh Sơn a; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 03/12; dân tộc: Thái; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông ường Văn Phỏng, sinh năm 1960 và bà ường Thị Phiu (đã chết); bị cáo có vợ là Cà Thị Dung, sinh năm 1994 và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Tại bản án số 326/2006/HSST ngày 18/9/2006 bị Tòa án nhân tỉnh Sơn a xử phạt 10 (mười) năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy; Tại bản án số 59/2017/HSST ngày 23/3/2017 bị Tòa án nhân huyện TC, tỉnh Sơn a xử phạt 18 (mười tám) tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy; bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 30 tháng 8 năm 2023. Có mặt

2. Quàng Văn N, tên gọi khác: Không; sinh năm 1987, tại huyện TC, tỉnh Sơn a; nơi cư trú: bản Công Mường, xã TL, huyện TC, tỉnh Sơn a; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Thái; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quàng Văn Phống (đã chết) và bà ò Thị oan, sinh năm 1958; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Tại bản án số 77/2006/HSST ngày 18/8/2006 bị Tòa án nhân huyện TC, tỉnh Sơn a xử phạt 12 (mười hai) tháng tù về tội trộm cắp tài sản (chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/3/2007); Tại bản án số 49/2009/HSST ngày 22/4/2009 bị Tòa án nhân huyện TC, tỉnh Sơn a xử phạt 04 (bốn) năm tù về tội trộm cắp tài sản (chấp hành hình phạt tù ngày 09/10/2012); Tại bản án số 58/2013/HSST ngày 06/5/2013 bị Tòa án nhân huyện TC, tỉnh Sơn a xử phạt 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội trộm cắp tài sản (chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/01/2015); Tại bản án số 97/2016/HSST ngày 23/8/2016 bị Tòa án nhân huyện TC, tỉnh Sơn a xử phạt 07 (bảy) năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/6/2022); tiền sự: không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 30 tháng 8 năm 2023 đến ngày 20 tháng 10 năm 2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “bảo lĩnh” đến nay hiện đang tại ngoại, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 10 phút ngày 30/8/2023, Tổ công tác Công an xã TL, huyện TC, tỉnh Sơn a làm nhiệm vụ tại khu vực bản Thẳm, xã TL, huyện TC, phát hiện bắt quả tang Quàng Văn N có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy

V t ch ng thu giữ của Quàng Văn N: 01 (một) gói nilon màu trắng bên trong có ch a bột cục màu trắng nghi là Heroine và 20 (hai mươi) viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp (theo Quàng Văn N khai là Heroine và ma túy tổng hợp ); một chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Redmi, màn hình cảm ng, vỏ nhựa màu xanh.

Hồi 12 giờ 45 phút ngày 30/8/2023, Tổ công tác Công an xã TL, huyện TC, tỉnh Sơn a làm nhiệm vụ tại khu vực bản Nà ạn, xã TL, huyện TC, phát hiện bắt quả tang ường Văn có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy

V t ch ng thu giữ của ường Văn : 01 (một) gói nilon màu trắng bên trong có ch a bột cục màu trắng nghi là Heroine và 50 (năm mươi) viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp (theo ường Văn khai là Heroine và ma túy tổng hợp); một chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG, màn hình cảm ng, vỏ nhựa màu xanh.

Hồi 18 giờ 00 phút, ngày 30/8/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thu n Châu đã tiến hành bóc mở niêm phong, cân tịnh v t ch ng và lấy m u giám định thu giữ của bị cáo Quàng Văn N, kết quả: Số bột cục màu trắng nghi là Heroine trong gói nilon màu trắng có khối lượng 2,22 gam. Trích 0,27 gam chất bột cục màu trắng, ký hiệu N1 gửi giám định. Còn lại 1,95 gam chất bột màu trắng nghi là Heroine, ký hiệu N2. Cân tịnh 20 ( hai mươi) viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp trong túi nilon màu trắng, có khối lượng 1,98 gam. Trích 05 (năm) niên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp có khối lượng 0,50 gam trong tổng số 1,98 gam viên nén màu hồng, ký hiệu N3 gửi giám định. Còn lại 15 (mười lăm) viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp, có khối lượng 1,48 gam, ký hiệu N4.

Hồi 18 giờ 30 phút, ngày 30/8/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thu n Châu đã tiến hành bóc mở niêm phong, cân tịnh v t ch ng và lấy m u giám định thu giữ của bị cáo ường Văn , kết quả: Số bột cục màu trắng nghi là Heroine trong gói nilon màu trắng có khối lượng 1,72 gam. Trích 0,31 gam chất bột cục màu trắng, ký hiệu L1 gửi giám định Còn lại 1,41 gam chất bột màu trắng nghi là Heroine, ký hiệu L2. Cân tịnh 50 (năm mươi) viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp trong túi nilon màu trắng, có khối lượng 3,92 gam Tr ch 05 (năm) niên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp có khối lượng 0,41 gam trong tổng số 3,92 gam viên nén màu hồng, ký hiệu L3 gửi giám định. Còn lại 45 (bốn mươi lăm) viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp, có khối lượng 3,51 gam, ký hiệu L4.

Kết lu n giám định số: 2106/KL- KTHS ngày 03/9/2023 của Phòng Kỹ thu t hình sự Công an tỉnh Sơn a kết lu n: M u gửi giám định ký hiệu N1 là ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine; khối lượng của m u gửi giám định là 0,27 gam. M u gửi giám định ký hiệu N3 là ma túy; loại loại Methamphetamine; khối lượng của m u gửi giám định là 0,50 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ 2,22 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine và 1,98 gam; loại Methamphetamine Hoàn lại đối tượng giám định: M u gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định

Kết lu n giám định số: 2121/K - KTHS ngày 04/9/2023 của Phòng Kỹ thu t hình sự Công an tỉnh Sơn a kết lu n: M u gửi giám định ký hiệu L1 là ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine; khối lượng của m u gửi giám định là 0,31 gam. M u gửi giám định ký hiệu L3 là ma túy; loại loại Methamphetamine; khối lượng của m u gửi giám định là 0,41 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ 1,72 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine và 3,92 gam; loại Methamphetamine. Hoàn lại đối tượng giám định: M u gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo ường Văn , Quàng Văn N đã khai nh n toàn bộ hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 30/8/2023, ường Văn đi bộ một mình từ nhà ở bản Nà Lạn, xã TL, huyện TC, tỉnh Sơn a sang bản Lạnh, xã TL, huyện TC, tỉnh Sơn a mục đ ch đi tìm mua ma túy về để sử dụng và bán kiếm lời. Khi L đi đến khu vực bản Lạnh, xã TL, huyện TC, L gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc thái ( L không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu) một gói ma túy gói b ng nilon màu trắng bên trong có ch a Heroine và 70 (bảy mươi) viên hồng phiến với giá 6.000.000 đồng Sau khi mua được ma túy, L cất giấu ma túy vào túi quần đ ng trước bên trái đang mặc, rồi đi bộ về nhà. Khi L đang đi trên đường về thì có Quàng Văn N, sinh năm 1987, trú tại bản Công Mường, xã TL, huyện TC, tỉnh Sơn a gọi điện và nhắn tin hỏi mua ma túy, qua nói chuyện Quàng Văn N hỏi mua nợ một ít Heroine và 20 (hai mươi) viên hồng phiến với giá 2 500 000 đồng, chưa có tiền trả, L đồng ý và hẹn N ở dốc bản Củ, xã TL, huyện TC để trao đổi mua bán ma túy. Sau đó L nhặt một mảnh nilon màu trắng ở ven đường san ra một t Heroine và 20 (hai mươi) viên hồng phiến cho vào mảnh nilon màu trắng để bán cho N, số Heroine và 50 (năm mươi) viên hồng phiến còn lại L cất giấu vào túi quần ph a trước bên trái đang mặc, rồi đi bộ ra dốc bản Củ, xã TL đợi N. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày thấy N đến, gặp nhau, L đưa cho N một gói ma túy gói b ng nilon màu trắng bên trong có ch a Heroine và 20 (hai mươi) viên hồng phiến. Sau đó L đi bộ về nhà. Khi L đi đến khu vực bản Nà Lạn, xã TL, huyện TC thì bị tổ công tác Công an xã TL, huyện Thu n Châu phát hiện, bắt quả tang và thu giữ cùng v t ch ng đối với ường Văn . Đối với Quàng Văn N, sau khi mua được ma túy của L, N cất giấu ma túy ở tay phải, rồi đi bộ về nhà, khi N đi đến khu vực bản Thẳm, xã TL, huyện TC thì thì bị tổ công tác Công an xã TL, huyện Thu n Châu phát hiện, bắt quả tang và thu giữ cùng v t ch ng đối với Quàng Văn N.

Tại Cáo trạng số: 59/CT- VKSTC, ngày 24 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TC truy tố bị cáo ường Văn về tội mua bán trái phép chất ma túy theo điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ lu t Hình sự; truy tố bị cáo Quàng Văn N về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ lu t Hình sự

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo ường Văn , Quàng Văn N đã khai nh n toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân huyện TC đã truy tố và thừa nh n bản cáo trạng truy tố bị cáo ường Văn về tội mua bán trái phép chất ma túy; truy tố bị cáo Quàng Văn N về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội

Trong phần tranh lu n, đại diện Viện kiểm sát nhân huyện TC giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời lu n tội, sau khi phân t ch đánh giá t nh chất, m c độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ lu t Hình sự:

Tuyên bố bị cáo ường Văn phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy

ử phạt bị cáo ường Văn từ 08 (tám) năm tù đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù.

Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ lu t Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Quàng Văn N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy

ử phạt bị Quàng Văn N từ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù đến 06 (sáu) năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung ( phạt tiền) đối với các bị cáo

Về v t ch ng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ u t Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ lu t Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 1,41 gam Heroine, ký hiệu L2; 45 (bốn mươi lăm) viên ma túy tổng hợp là Methamphetamine có khối lượng 3,51 gam, ký hiệu L4; 1,95 gam Heroine, ký hiệu N2; 15 (mười lăm) viên ma túy tổng hợp là Methamphetamine có khối lượng 1,48 gam, ký hiệu N4; 02 mảnh nilon màu trắng; 02 vỏ phong bì niêm phong v t ch ng ban đầu, 02 vỏ phong bì đựng hai chiếc điện thoại.

Tuyên tịch thu nộp N sách nhà nước: Một chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Redmi, màn hình cảm ng, vỏ nhựa màu xanh thu giữ của bị cáo Quàng Văn N; một chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG, màn hình cảm ng, vỏ nhựa màu xanh thu giữ của bị cáo ường Văn .

Miễn phải án ph hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quàng Văn N.

Bị cáo ường Văn phải án ph hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp lu t.

Tại phiên tòa, các bị cáo ường Văn , Quàng Văn N thừa nh n hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh lu n gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n định như sau:

. Về lý lịch của bị cáo ường Văn : Tại danh bản, chỉ bản số 0753 l p ngày 14/7/2006 tại Công an huyện Sông Mã họ tên ường Văn , sinh ngày 28/8/1986, bố ường Văn Phổng, mẹ ường Thị Phiu. Tại bản án số 326/2006/HSST ngày 18/9/2006 của Tòa án nhân tỉnh Sơn a xử phạt bị cáo ường Văn , sinh ngày 06/12/1989, bố ường Văn Phỏng, mẹ ường Thị Phiu.

Tại lý lịch bị can l p ngày 16/12/2016 họ tên ường Văn , sinh năm 1986, tại Danh bản số 197, l p ngày 14/12/2016 tại Công an huyện TC họ tên ường Văn , sinh năm 1986. Tại bản án số 59/2017/HSST ngày 23/3/2017 của Tòa án nhân huyện TC, tỉnh Sơn a xét xử bị cáo ường Văn , sinh năm 1986, bố ường Văn Phỏng, 57 tuổi, mẹ ường Thị Phiu (đã chết), vợ ường Thị Dung, 23 tuổi.

Tại hồ sơ vụ án, lý lịch bị can l p ngày 08/9/2023 họ tên ường Văn , sinh năm 1986, bố ường Văn Phỏng, mẹ ường Thị Phiu (đã chết), vợ Cà thị Dung, sinh năm 1994, tại Danh bản số 398, l p ngày 12/9/2023 tại Công an huyện TC họ tên ường Văn , sinh ngày 18/6/1986, nơi thường trú: bản Nà Lạn, xã TL, huyện TC, tỉnh Sơn a

Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện TC ra Quyết định trưng cầu giám định số 322/ĐCSHS-KTMT ngày 16/10/2023. Tại kết lu n giám định số 2475/KL-KTHS, ngày 23/10/2023 của Phòng kỹ thu t hình sự Công an tỉnh Sơn La kết lu n: dấu vân tay trên danh bản, chỉ bản m u cần giám định, ký hiệu A với dấu vân tay trên các danh bản, chỉ bản m u so sánh ký hiệu B1 và B2 là dấu vân tay của cùng một người.

Căn c vào giấy khai sinh, căn cước công dân, mã số định danh cá nhân, xác nh n thông tin về cư trú của bị cáo ường Văn , kết lu n giám định số 2475/KL-KTHS, ngày 23/10/2023 của Phòng kỹ thu t hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết quả thẩm tra tại phiên tòa xác định: Bị cáo ường Văn , sinh năm 1989 tại bản án số Tại bản án số 326/2006/HSST ngày 18/9/2006 của Tòa án nhân tỉnh Sơn a xét xử. Bị cáo ường Văn , sinh năm 1986 tại bản án số: Tại bản án số 59/2017/HSST ngày 23/3/2017 của Tòa án nhân huyện TC xét xử. Và bị cáo ường Văn ; sinh năm 1986 tại bản án ngày hôm nay 23/5/2024 xét xử là một người.

. Về lý lịch của bị cáo Quàng Văn N: Tại lý lịch bị can l p ngày 25/3/2006, họ tên Quàng Văn N, sinh ngày 02/02/1989, bố Quàng Văn Phóng, sinh năm 1961, mẹ Quàng Thị oan, sinh năm 1963 Tại danh bản, chỉ bản số 1219 l p ngày 27/3/2006 tại Công an huyện TC, họ tên Quàng Văn N, sinh năm 1989, bố Quàng Văn Phống, mẹ Quàng Thị Xoan. Tại bản án số 77/2006/HSST ngày 18/8/2006 của Tòa án nhân huyện TC, tỉnh Sơn a xét xử bị cáo Quàng Văn N, sinh ngày 02/02/1989, bố Quàng Văn Phống, 50 tuổi, mẹ Quàng Thị Xoan, 45 tuổi.

Tại lý lịch bị can l p ngày 13/10/2008 họ tên Quàng Văn N, sinh ngày 02/02/1989, bố Quàng Văn Phống, sinh năm 1962, mẹ Quàng Thị Soan, sinh năm 1965; tại Danh bản số 1953, l p ngày 13/10/2008 tại Công an huyện TC họ tên Quàng Văn N, sinh năm 1989, bố Quàng Văn Phống, mẹ Quàng Thị Soan. Tại bản án số 49/2009/HSST ngày 22/4/2009 của Tòa án nhân huyện TC, tỉnh Sơn a xét xử bị cáo Quàng Văn N, sinh năm 1989, bố Quàng Văn Phống, 51 tuổi, mẹ Quàng Thị Soan, 43 tuổi.

Tại lý lịch bị can l p ngày 08/01/2013 họ tên Quàng Văn N, sinh năm 1989, bố Quàng Văn Phống, sinh năm 1957, mẹ Quàng Thị oan, sinh năm 1958; tại Danh bản số 17, l p ngày 08/02/2013 tại Công an huyện TC họ tên Quàng Văn N, sinh năm 1989, bố Quàng Văn Phống, mẹ Quàng Thị Xoan. Tại bản án số 58/2013/HSST ngày 06/5/2013 của Tòa án nhân huyện TC, tỉnh Sơn La xét xử bị cáo Quàng Văn N, sinh năm 1989, bố Quàng Văn Phống, sinh năm 1957, mẹ Quàng Thị oan, sinh năm 1957.

Tại lý lịch bị can l p ngày 12/02/2016, họ tên Quàng Văn N, sinh năm 1989, bố Quàng Văn Phống, sinh năm 1957, mẹ Quàng Thị Soan, sinh năm 1957; tại Danh bản số 021, l p ngày 08/02/2016 tại Công an huyện TC họ tên Quàng Văn N, sinh năm 1989, bố Quàng Văn Phóng, mẹ Quàng Thị Soan. Tại bản án số 97/2016/HSST ngày 23/8/2016 của Tòa án nhân huyện TC, tỉnh Sơn a xét xử bị cáo Quàng Văn N, sinh năm 1989, bố Quàng Văn Phống, sinh năm 1957, mẹ Quàng Thị Soan, sinh năm 1957.

Tại hồ sơ vụ án, lý lịch bị can l p ngày 08/9/2023 họ tên Quàng Văn N, sinh năm 1987, bố Quàng Văn Phống (đã chết), mẹ Lò Thị oan, sinh năm 1958, tại Danh bản số 397, l p ngày 12/9/2023 tại Công an huyện TC họ tên Quàng Văn N, sinh năm 1987, nơi thường trú: bản Công Mường, xã TL, huyện TC, tỉnh Sơn a

Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện TC ra Quyết định trưng cầu giám định số 321/ĐCSHS-KTMT ngày 16/10/2023. Tại kết lu n giám định số 2479/KL-KTHS, ngày 23/10/2023 của Phòng kỹ thu t hình sự Công an tỉnh Sơn La kết lu n: dấu vân tay trên danh bản, chỉ bản m u cần giám định, ký hiệu A với dấu vân tay trên các danh bản, chỉ bản m u so sánh ký hiệu B1 và B4 là dấu vân tay của cùng một người.

Căn c vào giấy khai sinh, căn cước công dân, mã số định danh cá nhân, xác nh n thông tin về cư trú của bị cáo Quàng Văn N, kết lu n giám định số 2479/KL-KTHS, ngày 23/10/2023 của Phòng kỹ thu t hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết quả thẩm tra tại phiên tòa xác định: Bị cáo Quàng Văn N, sinh năm 1989 tại bản án số 77/2006/HSST ngày 18/8/2006 của Tòa án nhân huyện TC, tỉnh Sơn a xét xử. Bị cáo Quàng Văn N, sinh năm 1989 tại bản án số 49/2009/HSST ngày 22/4/2009 của Tòa án nhân huyện TC, tỉnh Sơn a xét xử. Bị cáo Quàng Văn N, sinh năm 1989 tại bản án số 58/2013/HSST ngày 06/5/2013 của Tòa án nhân huyện TC, tỉnh Sơn a xét xử. Bị cáo Quàng Văn N, sinh năm 1989 tại bản án số 97/2016/HSST ngày 23/8/2016 của Tòa án nhân huyện TC, tỉnh Sơn a xét xử Và bị cáo Quàng Văn N; sinh năm 1987 tại bản án ngày hôm nay 23/5/2024 xét xử là một người.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TC, tỉnh Sơn a, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ lu t Tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng

Tại phiên toà các bị cáo ường Văn , Quàng Văn N thừa nh n tổng số ma tuý 4,20 gam (1,98 gam, loại Methamphetamine và 2,22 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine) thu giữ của bị cáo Quàng Văn N là ma tuý mua của bị cáo ường Văn với mục đ ch để sử dụng và số ma tuý 5,64 gam chất ma tuý (3,92 gam, loại Methamphetamine và 1,72 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine) thu giữ trên người bị cáo ường Văn là của bị cáo cất giữ với mục đ ch để sử dụng và bán kiếm lời.

Tại phiên tòa các bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, các bị cáo hoàn toàn nhất tr với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát

ời khai nh n tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp kết quả điều tra, phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang l p ngày 30/8/2023; Biên bản niêm phong v t ch ng; Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy m u gửi giám định và niêm phong lại; Biên bản mở niêm phong và giao nh n đối tượng giám định; Kết lu n giám định số 2106/KL- KTHS ngày 03/9/2023, kết lu n giám định số: 2121/KL- KTHS ngày 04/9/2023, kết lu n giám định số: 2475/KL- KTHS ngày 23/10/2023, kết lu n giám định số: 2479/KL- KTHS ngày 23/10/2023 của Phòng Kỹ thu t hình sự Công an tỉnh Sơn a; lời khai của người ch ng kiến

Bị cáo ường Văn : Ngày 30/8/2023 bị cáo ường Văn đã có hành vi cất giữ trái phép 5,64 gam chất ma tuý (3,92 gam, loại Methamphetamine và 1,72 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine) trong người với mục đ ch để sử dụng và bán kiếm lời; cùng ngày 30/8/2023 bị cáo ường Văn bán trái phép 4,20 gam (1,98 gam, loại Methamphetamine và 2,22 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine) cho bị cáo Quàng Văn N. Bị cáo ường Văn phải chịu trách nhiệm về tổng số lượng ma túy bị thu giữ của bị cáo và ma túy thu giữ của bị cáo Quàng Văn N, với tổng trọng lượng là: 9,84 gam.

Các hành vi nêu trên của bị cáo ường Văn đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ lu t Hình sự.

Bị cáo Quàng Văn N: Tại bản án số 77/2006/HSST ngày 18/8/2006 bị Tòa án nhân huyện TC, tỉnh Sơn a xử phạt 12 (mười hai) tháng tù về tội trộm cắp tài sản (chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/3/2007); Tại bản án số 49/2009/HSST ngày 22/4/2009 bị Tòa án nhân huyện TC, tỉnh Sơn a xử phạt 04 (bốn) năm tù về tội trộm cắp tài sản (chấp hành hình phạt tù ngày 09/10/2012); Tại bản án số 58/2013/HSST ngày 06/5/2013 bị Tòa án nhân huyện TC, tỉnh Sơn a xử phạt 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội trộm cắp tài sản (chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/01/2015); Tại bản án số 97/2016/HSST ngày 23/8/2016 bị Tòa án nhân huyện TC, tỉnh Sơn a xử phạt 07 (bảy) năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/6/2022). Đến ngày 30/8/2023 bị cáo Quàng Văn N tiếp tục có hành vi cất giữ trái phép 4,20 gam (1,98 gam, loại Methamphetamine và 2,22 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine) trong người với mục đ ch để sử dụng. Bị cáo đã tái phạm nguy hiểm chưa được xóa án t ch mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.

Hành vi nêu trên của bị cáo Quàng Văn N đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ lu t Hình sự

Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến ch nh sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất tr t tự an ninh xã hội tại địa phương. Bị cáo ường Văn mục đ ch mua bán ma túy để hưởng L, thu L bất chính. Do đó cần có m c hình phạt nghiêm khắc nh m răn đe giáo dục đối với các bị cáo, trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo ường Văn , Quàng Văn N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ lu t Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo ường Văn : Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ lu t Hình sự.

Bị cáo Quàng Văn N: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người khuyết t t nặng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, p khoản 1 Điều 51 Bộ lu t Hình sự.

Về nhân thân: Các bị cáo ường Văn , Quàng Văn N đều có nhân thân xấu Bị cáo ường Văn có 02 tiền án đã được xóa án t ch; bị cáo Quàng Văn N có 04 tiền án chưa được xóa án t ch

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Các bị cáo ường Văn , Quàng Văn N không có tài sản, không có đủ điều kiện và khả năng thi hành hình phạt bổ sung. Do v y Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ:

Các bị cáo ường Văn , Quàng Văn N đều thừa nh n số ma túy thu giữ của bị cáo Quàng Văn N là ma túy của bị cáo ường Văn bán cho bị cáo Quàng Văn N tại khu vực bản Củ, xã TL, huyện TC, tỉnh Sơn a vào ngày 30/8/2023 ời khai của các bị cáo phù hợp với nhau Do đó, buộc bị cáo Quàng Văn N phải chịu trách nhiệm với số ma túy bị thu giữ.

Nguồn gốc ma túy thu giữ của bị cáo ường Văn và bị cáo Quàng Văn N, bị cáo ường Văn khai mua của một người đàn ông dân tộc thái không biết họ tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực bản ạnh, xã TL, huyện TC, tỉnh Sơn a vào ngày 30/8/2023 Ngoài lời khai của bị cáo không còn ch ng c nào khác ch ng minh Do đó, buộc bị cáo ường Văn phải chịu toàn bộ số ma túy bị thu giữ của bị cáo và thu giữ của bị cáo Quàng Văn N.

V t ch ng vụ án: Đối với 1,41 gam Heroine, ký hiệu L2; 45 (bốn mươi lăm) viên ma túy tổng hợp là Methamphetamine có khối lượng 3,51 gam, ký hiệu L4; 1,95 gam Heroine, ký hiệu N2; 15 (mười lăm) viên ma túy tổng hợp là Methamphetamine có khối lượng 1,48 gam, ký hiệu N4 là chất ma túy, thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành Đối với 02 mảnh nilon màu trắng; 02 vỏ phong bì niêm phong v t ch ng ban đầu, 02 vỏ phong bì đựng hai chiếc điện thoại là công cụ phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội, v t không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy căn c điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ u t Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ lu t Tố tụng hình sự

Đối với một chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Redmi, màn hình cảm ng, vỏ nhựa màu xanh của giữ bị cáo Quàng Văn N; một chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu SAMSUNG, màn hình cảm ng, vỏ nhựa màu xanh thu giữ của bị cáo ường Văn là công cụ, phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy cần tuyên tịch thu nộp N sách Nhà nước Căn c điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ Lu t Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ lu t Tố tụng hình sự.

Về án ph :

Bị cáo Quàng Văn N là người khuyết t t, tại phiên tòa bị cáo có ý kiến xin miễn án ph hình sự sơ thẩm, cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án: Miễn án ph hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quàng Văn N.

Căn c khoản 2 Điều 136 Bộ lu t Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo ường Văn phải chịu toàn bộ án ph hình sự sơ thẩm

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1 Về tội danh và hình phạt

Căn c điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ lu t Hình sự:

Tuyên bố bị cáo ường Văn phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy

ử phạt bị cáo ường Văn 08 (tám) năm tù Thời hạn chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày ngày 30/8/2023.

Căn c điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s, p khoản 1 Điều 51 Bộ lu t Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Quàng Văn N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy

ử phạt bị cáo Quàng Văn N 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án và khấu trừ 52 (năm mươi hai) ngày tạm giữ, tạm giam.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo ường Văn , Quàng Văn N.

2 Về v t ch ng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ u t Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ lu t Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy:

Một phong bì niêm phong có viền màu xanh đỏ, mặt trước ghi: V t ch ng nh p kho vụ ường Văn - MBTPCMT, bắt ngày 30/8/2023 Mặt sau phong bì, dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn a số: 067009, đè lên các mép dán của phong bì và trên giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong, người bị bắt và 02 hình dấu đỏ của cơ quan CSĐT Công an huyện TC, tỉnh Sơn a. Sau dán băng d nh màu trắng đè lên giấy niêm phong và các mép dán giáp lai của phong bì Bên trong có: 1,41 gam chất bột cục màu trắng là Heroine, ký hiệu L2+ 45 viên ma túy tổng hợp là Methamphetamine, có khối lượng 3,51 gam, ký hiệu L4+ 01 mảnh nilon màu trắng + 01 vỏ phong bì niêm phong v t ch ng ban đầu.

Một phong bì niêm phong có viền màu xanh đỏ, mặt trước ghi: V t ch ng nh p kho vụ Quàng Văn N - MBTPCMT, bắt ngày 30/8/2023 Mặt sau phong bì, dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn a số: 067007, đè lên các mép dán của phong bì và trên giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong, người bị bắt và 02 hình dấu đỏ của cơ quan CSĐT Công an huyện TC, tỉnh Sơn a Sau dán băng d nh màu trắng đè lên giấy niêm phong và các mép dán giáp lai của phong bì Bên trong có: 1,95 gam chất bột cục màu trắng là Heroine, ký hiệu N2+ 15 viên ma túy tổng hợp là Methamphetamine, có khối lượng 1,48 gam, ký hiệu N4+ 01 mảnh nilon màu trắng + 01 vỏ phong bì niêm phong v t ch ng ban đầu.

Một phong bì màu trắng, mặt trước ghi: V t ch ng nh p kho của ường Văn - MB, TTTPCMT Mặt sau phong bì, dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn a số: 062097 đè lên các mép dán của phong bì và trên giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong, họ tên của ường Văn và 02 hình dấu đỏ của cơ quan CSĐT Công an huyện TC, tỉnh Sơn a; một phong bì màu trắng, mặt trước ghi: V t ch ng nh p kho của Quàng Văn N - MB, TPCMT Mặt sau phong bì, dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn a số: 062098 đè lên các mép dán của phong bì và trên giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong, họ tên của Quàng Văn N và 02 hình dấu đỏ của cơ quan CSĐT Công an huyện TC, tỉnh Sơn a

Tịch thu nộp N sách Nhà nước:

Một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màn hình cảm ng, vỏ màu xanh, số IMEI 1: 357026895602112, số IMEI 2: 357412785602117, điện thoại đã qua sử dụng, là phương tiện ường Văn dùng để liên hệ, trao đổi mua bán ma túy với Quàng Văn N đựng trong một phong bì niêm phong màu trắng, mặt trước ghi: V t ch ng nh p kho của ường Văn - MB, TTTPCMT Mặt sau phong bì, dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn a số: 062097 đè lên các mép dán của phong bì và trên giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong, họ tên của ường Văn và 02 hình dấu đỏ của cơ quan CSĐT Công an huyện TC, tỉnh Sơn a Có băng d nh màu trắng đè lên giấy niêm phong và các mép dán giáp lai của phong bì

Một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màn hình cảm ng, vỏ màu xanh, số IMEI 1: 860347041090352, số IMEI 2: 860347041090360, điện thoại đã qua sử dụng, là phương tiện Quàng Văn N dùng để liên hệ, trao đổi mua bán ma túy với ường Văn đựng trong một phong bì niêm phong màu trắng, mặt trước ghi: V t ch ng nh p kho của Quàng Văn N - MB, TTTPCMT Mặt sau phong bì, dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn a số: 062098 đè lên các mép dán của phong bì và trên giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong, họ tên của Quàng Văn N và 02 hình dấu đỏ của cơ quan CSĐT Công an huyện TC, tỉnh Sơn a Có băng d nh màu trắng đè lên giấy niêm phong và các mép dán giáp lai của phong bì

(Theo biên bản giao nh n v t ch ng ngày 12/4/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TC và Chi cục Thi hành án dân sự huyện TC).

3 Về án ph :

Căn c điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án: Miễn án ph hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quàng Văn N.

Căn c khoản 2 Điều 136 Bộ lu t Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo ường Văn phải chịu 200 000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án ph hình sự sơ thẩm.

4 Về quyền kháng cáo: Căn c Điều 331, Điều 333 Bộ lu t Tố tụng hình sự: Các bị cáo ường Văn , Quàng Văn N được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ