- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn M bị truy tố và xét xử về tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn M 17 (Mười bảy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 03/10/2024.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 109/2024/HS-ST Ngày: 17 - 12 - 2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Sen
Ông Nguyễn Huy Hoàn
- Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Văn Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội.
- Đ diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 113/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2024/QĐXXST- HS ngày 02 tháng 12 năm 2024, đối với:
* Bị cáo: Bùi Văn M, sinh năm 1991 tại huyện Đan Ph, thành phố Hà Nội; nơi ĐKHKTT và cư trú: Cụm 6, xã Đan P, huyện Đan Ph, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt N; con ông Bùi Văn T và bà Tạ Thị Kh; có vợ và có 01 con sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 28/7/2017, bị Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây xử 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong hình phạt năm 2018; ngày 25/7/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng xử 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt năm 2020, chỉ bản số 329 do Công an huyện Đan Phượng lập ngày 03/10/2024; bị bắt tạm giam từ ngày 03/10/2024 đến nay; có mặt.
* Bị hại:
- Chị Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1989; địa chỉ: Cụm 6, xã Đan P, huyện Đan Ph, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
- Bà Đậu Thị Thanh H, sinh năm 1973; địa chỉ: Số nhà 6, ngõ Đình Đ, Cụm 6, xã Đan P, huyện Đan Ph, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Ích Đ, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn Cao Tr, xã Đức Gi, huyện Hoài Đ, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
- Anh Nguyễn Duy N, sinh năm 1990, địa chỉ: Cụm 5, xã Tân H, huyện Đan Ph, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có việc làm ổn định nên Bùi Văn M nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản để lấy tiền tiêu sài. Khoảng 03 giờ ngày 28/9/2024, M đi bộ lang thang tại khu vực cụm 6, xã Đan Phượng thì thấy cửa sổ tầng 2 nhà chị Nguyễn Thị Ngọc L (em dâu họ của M) ở nhà số 11, ngõ Đình Đông, đường Đại Phùng 1, cụm 6, xã Đan Phượng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội sáng đèn, M đi vào công trình đang xây dựng không có ai trông nom để quan sát dễ hơn, thấy cửa phòng chị L mở nên M nảy sinh ý trèo sang trộm cắp tài sản. M đi lên tầng hai của công trình trèo qua giàn giáo đã lắp đặt sẵn ở khoảng giữa cửa sổ nhà đang xây và ban công tầng 2 nhà chị L. Khi trèo được sang ban công, thấy chị L và các con đang ngủ M lén lút di chuyển vào phía kệ ti vi gần đầu giường thì thấy 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Macbook Air, màu ghi xám, model A1466, số serial: FVFW9TEXJ1WK đang sạc điện, bên dưới có kẹp 270.000 đồng (gồm nhiều mệnh giá khác nhau), M cầm số tiền trên cho vào túi quần đang mặc, rút sạc để chiếc máy tính vào cạp quần phía sau lưng rồi đi ra ngoài ban công trèo hướng ngược lại đi về nhà và cất giấu tại phòng ngủ của mình. Khoảng 04 giờ ngày 29/8/2024, do lo sợ bị phát hiện, M đã mang chiếc máy tính đến quán ăn đêm ở khu ông Phỗng, đường 32, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, Hà Nội gửi anh Nguyễn Ích Đ là chủ quán ăn. Đối với số tiền 270.000 đồng M tiêu sài hết.
Khoảng 08 giờ ngày 28/9/2024, sau khi ngủ dậy, phát hiện bị mất tài sản, chị L đến Công an xã Đan Phượng trình báo.
Căn cứ vào các tài liệu thu thập được ngày 02/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đan Phượng đã ra Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Bùi Văn M để điều tra về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Vật chứng thu giữ: 01 chiếc máy tính Laptop nhãn hiệu Apple Macbook Air, màu ghi xám, đã qua sử dụng, model A1466, số serial: FVFW9TEXJ1WK thu giữ của anh Nguyễn Ích Đ; bộ quần áo, chiếc mũ lưỡi trai Bùi Văn M mặc ngày thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 30/9/2024, Công an xã Đan Phượng, thành phố Hà Nội tiến hành thu giữ hình ảnh camera tại nhà chị Nguyễn Thị Ngọc L ghi lại hình ảnh Bùi Văn M sau khi trộm cắp tài sản của chị L.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 79/KL-HĐĐGTS ngày 02/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện Đan Phượng kết luận: “…01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Macbook Air, màu ghi xám, đã qua sử dụng, model A1466, số serial: FVFW9TEXJ1WK có giá trị là 7.500.000 đồng”.
Quá trình điều tra, ngoài hành vi trộm cắp như trên, Bùi Văn M còn khai nhận khoảng 22 giờ 30 phút một ngày cuối tháng 8/2024, do không có tiền tiêu sài nên M đi bộ trong xóm nhà mình xem có ai sơ hở thì trộm cắp tài sản. Khi đi đến trước cổng nhà bà Đậu Thị Thanh H (ở số nhà 26 ngõ Đình Đông, Đ Phùng I thuộc cụm 6, xã Đan Phượng, huyện Đan Phượng) cách nhà M hai nhà phát hiện tầng 2 mở cửa, M đi ra ngôi miếu sát nhà bà H, trèo lên Miếu, bám vào hàng rào và cây trèo vào ban công tầng 2. Quan sát không thấy ai và cửa phòng thứ hai (phòng thờ) bên tay trái M không đóng cửa nên M đã lén lút đi vào thì thấy 01 chiếc máy tính bảng nhãn hiệu Samsung Galaxy Tab S8 5G X-706B màu ghi xám bị nứt, vỡ kính ở góc phía trên bên trái của màn hình đang để ở chiếc bàn nhỏ cạnh bàn thờ. M cầm chiếc máy tính bảng đi ra ban công, để trèo ra ngoài M ngậm chiếc máy tính bảng vào miệng rồi trèo ra bằng lối cũ để tẩu thoát. Sau khi lấy được tài sản, M kiểm tra máy thì không có mật khẩu nên thoát tài khoản Facebook của bà H, đăng nhập tài khoản Facebook của mình để sử dụng. Đầu tháng 9 năm 2024, khi đi taxi của anh Nguyễn Duy N, do cần tiền tiêu sài nên M cầm cố chiếc máy tính bảng cho anh N để trả nợ anh N số tiền 1.400.000 đồng (tiền đi taxi những lần trước) và 200.000 đồng tiền xe taxi ngày hôm ấy và cầm thêm 900.000 đồng của anh N. Ngày 15/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đan Phượng đã tiến hành làm việc với anh N và thu giữ chiếc máy tính bảng của anh Nguyễn Duy N.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 86/KL-HĐĐGTSngày 15/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự, kết luận: “…01 chiếc máy tính bảng nhãn hiệu Samsung Galaxy Tab S8 5G X-706B, màu ghi xám, đã qua sử dụng, số Imei: 352952/65/045495/8 có giá trị là 8.000.000 đồng”.
Tại Cơ quan điều tra, Bùi Văn M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Bản Cáo trạng số 116/CT-VKSĐP ngày 28 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Bùi Văn M về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng nêu trên. Các lần bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nêu trên thì bị cáo đều tự đi một mình, không bàn bạc với ai. Khi bị cáo nhờ anh Đ giữ hộ máy tính xách tay và cầm cố máy tính bảng cho anh N thì bị cáo không trao đổi gì về nguồn gốc tài sản. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt. Đối với các bộ quần áo của bị cáo đã sử dụng nộp tại cơ quan điều tra bị cáo không yêu cầu nhận lại.
Chị Nguyễn Thị Ngọc L vắng mặt có văn bản trình bày: Chị đã nhận lại chiếc máy tính bị cáo M lấy trộm và không yêu cầu bồi thường thiệt hại. Do là chị em trong gia đình nên chị cho bị cáo số tiền đã lấy trộm 270.000 đồng và không yêu cầu gì khác.
Bà Đậu Thị Thanh H vắng mặt có lời khai tại cơ quan điều tra: Bà đã nhận lại chiếc máy tính bị cáo M lấy trộm và không yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Anh Nguyễn Duy N vắng mặt có lời khai tại cơ quan điều tra: Anh yêu cầu bị cáo M trả lại số tiền 2.500.000 đồng mà anh đã đưa cho bị cáo đề nhận cầm cố chiếc máy tính bảng.
Anh Nguyễn Ích Đ vắng mặt có lời khai tại cơ quan điều tra: Anh bán hàng ăn đêm, M là khách quen thường xuyên đến quán ăn của anh. Ngày 29/8/2024, M có gửi anh cất hộ chiếc máy tính xách tay thì anh đồng ý, anh không biết chiếc máy tính này là tài sản M trộm cắp mà có.
Đ diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng tại phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng truy tố bị cáo Bùi Văn M về tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo M từ 18 tháng tù đến 21 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn Duy N số tiền 2.500.000 đồng. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ 01 bộ quần áo, 01 chiếc mũ lưỡi trai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra, Điều tra viên và Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn M đã khai nhận hành vi của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, được chứng minh bằng lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, bản ảnh trích xuất camera, vật chứng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:
Do không có nghề nghiệp ổn định, cần tiền tiêu sài, trong khoảng thời gian từ khoảng cuối tháng 8 năm 2024 đến ngày 28/9/2024, Bùi Văn M đã thực hiện liên tiếp 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn xã Đan Phượng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội cụ thể: Khoảng 22 giờ một ngày cuối tháng 8/2024, tại tầng 2 nhà số 25 ngõ Đình Đông đường Đại Phùng 1 thuộc cụm 6, xã Đan Phượng Bùi Văn M lén lút chiếm đoạt 01 chiếc máy tính bảng nhãn hiệu Samsung Galaxy Tab S8 5G X-706B, màu ghi xám trị giá 8.000.000 đồng của bà Đậu Thị Thanh H. Khoảng 03 giờ ngày 28/9/2024, tại tầng 2 số nhà 11 ngõ Đình Đông đường Đ Phùng 1 thuộc Cụm 6, xã Đan Phượng, Bùi Văn M lén lút chiếm đoạt 01 chiếc máy tính Laptop nhãn hiệu Apple Macbook Air, màu ghi xám trị giá 7.500.000 đồng và số tiền 270.000 đồng của chị Nguyễn Thị Ngọc L. Tổng giá trị tài sản bị cáo Bùi Văn M trộm cắp của các bị hại là 15.770.000 đồng.
Tại thời điểm phạm tội, Bùi Văn M có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của M lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu, lén lút 02 lần chiếm đoạt tài sản với tổng số tiền 15.770.000 đồng đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn trong bản cáo trạng là có căn cứ, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất của vụ án, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và trị an xã hội tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, đã 02 lần bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, sau khi chấp hành xong các bản án, bị cáo không sửa chữa bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Xét thấy bị cáo tuổi đời còn trẻ nhưng không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân mà có hành vi phạm tội nêu trên. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, mỗi lần trị giá hơn 2.000.000 đồng. Do vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Theo Điều 173 Bộ luật hình sự thì ngoài hình phạt chính còn quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền, xét thấy bị cáo M là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Chị Nguyễn Thị Ngọc L và bà Đậu Thị Thanh H đã nhận lại máy tính và không có yêu cầu đề nghị gì về mặt dân sự đối với Bùi Văn M nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Chị L cho M số tiền 270.000 đồng, không có yêu cầu đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Anh Nguyễn Duy N yêu cầu bị cáo M trả số tiền 2.500.000 đồng mà anh N đưa cho M để nhận cầm cố máy tính bảng. Chiếc máy tính này đã thu hồi trả lại cho bà H. Xét yêu cầu của anh N là chính đáng nên buộc bị cáo M phải bồi thường cho anh N số tiền 2.500.000 đồng.
Về vật chứng vụ án gồm: 01 áo phông màu đen có họa tiết sáng màu phía trước bên ngoài, 01 chiếc quần đùi màu đen, 01 chiếc mũ lưỡi trai thu giữ của bị cáo M, đây là quần áo của bị cáo đã sử dụng, giá trị không lớn và bị cáo không yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.
Các vấn đề khác:
Bị cáo Bùi Văn M gửi anh Nguyễn Ích Đ giữ hộ chiếc 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Macbook Air của chị L; bị cáo M cầm cố cho anh Nguyễn Duy N 01 chiếc máy tính bảng nhãn hiệu Samsung Galaxy Tab S8 5G X-706B của bà H. Quá trình điều tra xác định anh Đ và anh N đều không biết đó là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đan Phượng không đề cập xử lý đối với anh N và anh Đ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn M 17 (Mười bảy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 03/10/2024.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ các 584, 589 và Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Bùi Văn M phải bồi thường cho anh Nguyễn Duy N số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người có quyền yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ đồ vật đã qua sử dụng gồm: 01 áo phông màu đen có họa tiết sáng màu phía trước bên ngoài; 01 chiếc quần đùi màu đen; 01 chiếc mũ lưỡi trai.
(Vật chứng nêu trên được ghi theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/12/2024 giữa Công an huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đan Phượng).
4. Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Bùi Văn M phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự.
5. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo Bùi Văn M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo những vấn đề liên quan đến bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hà Nội; - VKSND huyện Đan Phượng; - CQTHAHS huyện Đan Phượng; - CCTHADS huyện Đan Phượng; - Bị cáo, - Bị hại, người liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu |