- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trung - Linh"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện của ông Nguyễn Thành T:
- Căn cứ chính? Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 109/2024/HNGĐ-ST Ngày: 05/4/2024 V/v: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Thùy Dương N Anh Các Hội thẩm nhân dân :
1. Ông Nguyễn Văn Đông
2. Bà Nguyễn Thị Cúc
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Lệ Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân quận Long Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 05/4/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Long Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 540/2023/TLST-HNGĐ ngày 09/11/2023, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/3/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 26/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29/3/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành T Địa chỉ: phường Việt Hưng, quận Long Biên, Hà Nội. (Có mặt ông T)
- Bị đơn: Bà Trần Huệ L Địa chỉ: phường Việt Hưng, quận Long Biên, Hà Nội. (Vắng mặt bà L).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 10/10/2023 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Nguyễn Thành T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Trần Huệ L tự nguyện tìm hiểu, yêu nhau và đăng ký kết hôn ngày 13/8/2003 của UBND phường Cái Khế, thành phố Cần Thơ, tỉnh Cần Thơ, nay là phường Cái Khế, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Quá trình chung sống vợ chồng hoà thuận đến năm 2015, từ 2016 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do cả hai bên không tìm được tiếng nói chung, không có sự đồng cảm chia sẻ, bà L có biểu hiện tH tôn trọng chồng và gia đình nhà chồng. Mâu thuẫn ngày càng sâu sắc nên tuy sống ở chung một nhà nhưng vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay.
Nay tôi nhận thấy tình cảm vợ chồng đã hết, đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với bà Trần Huệ L để mỗi người sớm ổn định cuộc sống của mình.
- Về con chung: chúng tôi có hai con chung là Nguyễn Trần T H và Nguyễn Trần B. N, hiện cả hai cháu đều sống cùng bố mẹ. Trường hợp vợ chồng ly hôn thì tôi đồng ý giao cháu N cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng vì cháu là con gái, ở với mẹ sẽ dễ tâm sự và gần gũi chia sẻ những vấn đề tế nhị. Đối với cháu H tuy đã là người thành niên nhưng cháu đi học chậm nên hiện nay vẫn học lớp 12, chưa làm ra kinh tế để tự nuôi sống bản thân, tôi xin được nhận nuôi dưỡng và chu cấp ăn học cho cháu H.
- Về tài sản chung: nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là bà Trần Huệ L đã được Toà án thông báo thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ nhưng không giao nộp văn bản ý kiến, bản tự khai, cũng không đến Toà làm việc theo lịch đã được thông báo.
Tại phiên toà,
- Ông T giữ quan điểm đề nghị Toà án giải quyết cho được ly hôn với bà Trần Huệ L; đồng ý giao con chung là Nguyễn Trần B. N cho bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, ông T nhận chu cấp ăn học cho anh Nguyễn Trần T H, không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai; tài sản chung không yêu cầu Toà án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên phát biểu:
+ Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng thủ tục tố tụng, đảm bảo quy định của pháp luật trong tất cả các quá trình từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa. Về phía các đương sự đều chấp hành nghĩa vụ tố tụng trong quá trình giải quyết.
+ Về nội dung: Đề nghị hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Điều 28 Khoản 1 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết 326 của UBTVQH, quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành T, cho ông T được ly hôn với bà Trần Huệ L; giao cháu Nguyễn Trần B. N cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với ông T đến khi bà L yêu cầu hoặc khi có thay đổi khác; đối với anh Nguyễn Trần T H đã thành niên nên ở với ai tuỳ anh H quyết định; tài sản chung không xem xét; ông T có nghĩa vụ nộp án phí DSST không giá ngạch.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ly hôn, bị đơn có địa chỉ tại địa bàn quận Long Biên, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Long Biên theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà Trần Huệ L.
Về nội dung yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành T:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Huệ L và ông Nguyễn Thành T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 13/8/2003 tại UBND UBND phường Cái Khế, thành phố Cần Thơ, tỉnh Cần Thơ, nay là phường Cái Khế, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ, đây là hôn nhân hợp pháp.
Căn cứ vào lời khai của ông T, các con ở cùng nhau, cùng tài liệu Tòa án xác minh được có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định giữa ông Nguyễn Thành T và bà Trần Huệ L có mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, tuy ở cùng một nhà nhưng mỗi người có một cuộc sống riêng, không còn quan tâm đến nhau. Bà L biết việc ông T làm thủ tục xin ly hôn nhưng không đến Tòa để giải quyết vụ án mà không có lý do chính đáng, thể hiện sự không thiện chí hoà giải, khắc phục mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa ông T và bà L là có thật và đã thật sự trầm trọng, cả hai bên đều không thực hiện các nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, có đủ căn cứ để chấp nhận đơn khởi kiện của ông T, cho ông T được ly hôn với bà L là phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: căn cứ hồ sơ vụ án thì ông Nguyễn Thành T và bà Trần Huệ L có hai con chung là anh Nguyễn Trần T H (sinh năm 2005) và cháu Nguyễn Trần B. N .
Xét đề nghị của ông T về việc đồng ý giao cháu N cho bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sau khi ly hôn là phù hợp với thực tế, đúng với nguyện vọng, mong muốn của cháu N, nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu N cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn là đảm bảo quyền lợi của con chung và phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Đối với anh H tuy đã thành niên nhưng theo ông T trình bày do anh H học muộn so với các bạn nên hiện nay vẫn đang học lớp 12, chưa làm ra kinh tế để tự nuôi sống bản thân, do vậy ông T nhận trách nhiệm lo ăn học cho anh H. Xét đây là sự tự nguyện của ông T nên Toà án không xem xét, giải quyết.
Về cấp dưỡng nuôi con: ông T cho rằng mỗi người nuôi một con chung nên không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai; bà L không có ý kiến gì về tất cả mọi vấn đề. Do vậy, Toà án tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho đến khi bà L có yêu cầu hoặc khi có sự thay đổi khác.
- Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết, vì vậy Toà án không xem xét.
Về án phí, quyền kháng cáo:
- Ông T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, các Điều 227, 228, 266, 273, 275 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56 và các điều 57, 81, 82, 83, 88 và 118 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Xử:
1. Chấp nhận đơn khởi kiện của ông Nguyễn Thành T:
Ông Nguyễn Thành T được ly hôn với bà Trần Huệ L.
2. Về con chung:
Ông Nguyễn Thành T và bà Trần Huệ L có hai con chung là Nguyễn Trần T H và Nguyễn Trần B. N .
Giao cháu Nguyễn Trần B. N cho bà Trần Huệ L trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với ông T cho đến khi bà L yêu cầu hoặc khi có sự thay đổi khác. Ông Nguyễn Thành T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Đối với anh Nguyễn Trần T H đã thành niên và không thuộc trường hợp phải cấp dưỡng đối với con đã thành niên, do vậy Toà án không xem xét.
3. Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết;
4. Về án phí: Ông Nguyễn Thành T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0018295 ngày 09/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Long Biên. Ông T đã nộp đủ án phí.
5. Ông Nguyễn Thành T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Trần Huệ L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
| Nơi nhận : - TAND Tp. Hà Nội; - VKS Q. Long Biên, - VKS Tp. Hà Nội; - Chi cục THADS Q. Long Biên; - Các đương sự; - UBND phường Cái Khế, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ (để ghi vào sổ hộ tịch); - Lưu HS, VP. | Nguyễn Hoàng Thùy Dương N Anh |