vanban.org

Bản án 109/2024/DS-ST — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

TAND TX. Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 02/08/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Văn H đối với bị đơn ông Ngô D và bà Lâm Thị H1, về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”.

Buộc ông Ngô D và bà Lâm Thị H1 có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho ông Trần Văn H số tiền nợ là 163.085.000đ (một trăm sáu mươi ba triệu không trăm tám mươi lăm nghìn đồng). Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và ông Hảo có đơn yêu cầu thi hành án, ông Ngô D và bà Lâm Thị H1 phải liên đới trả l… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng mua bán"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Văn H đối với bị đơn ông Ngô D và bà Lâm Thị H1, về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ VĨNH CHÂU
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 109/2024/DS-ST
Ngày: 02 - 8 - 2024
V/v Tranh chấp hợp
đồng mua bán tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Thái Trung Nghĩa.

2. Bà Nguyễn Huỳnh Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hưng, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu.

Trong ngày 02 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 143/2024/TLST-DS ngày 27 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2024/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 112/2024/QĐST-DS ngày 15 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Trần Văn H , sinh năm 1996.

Địa chỉ: ấp L , xã L , thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Chị Trần Diễm M , sinh năm 1996 (có mặt).

Địa chỉ: Số nhà 034 khóm Tr , phường Kh , thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

* Bị đơn:

- Ông Ngô D , sinh năm 1978 (vắng mặt).

- Bà Lâm Thị H1, sinh năm 1980 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: ấp P , xã L , thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 08/5/2024 của nguyên đơn và tại Phiên tòa sơ thẩm người đại diện do nguyên đơn ủy quyền chị Trần Diễm M trình bày:

Ông Trần Văn H trước đây có bán thức ăn nuôi Tôm V và thuốc thủy sản cho vợ chồng ông Ngô D và bà Lâm Thị H1 từ ngày 20/10/2021 đến ngày 14/11/2022, hai bên có ký hợp đồng nhưng đã bị thất lạc.

Theo Hợp đồng, hai bên thỏa thuận ông H sẽ cung cấp thức ăn, thuốc thủy sản cho ông D – bà H1. Đơn giá được thông báo trực tiếp theo đơn hàng và được xác nhận theo từng thời điểm, được ghi nhận tại sổ giao nhận hàng. Hàng hóa được giao tại của hàng, ông D – bà H1 hoặc người nhà đến lấy hàng. Sau khi nhận hàng thì kiểm tra số lượng, chất lượng, chủng loại, đơn giá và ký tên vào sổ giao nhận hàng. Phương thức thanh toán được thỏa thuận sau vụ thu hoạch Tôm phải thanh toán dứt điểm tiền hàng, trường hợp nuôi thất vẫn phải thanh toán. Nếu vi phạm thanh toán, ông H có quyền cắt, đơn phương chấm dứt hợp đồng và yêu cầu ông D – bà H1 thanh toán 1 lần hết số tiền hàng còn nợ.

Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, ông Trần Văn H đã thực hiện đúng nghĩa vụ, giao hàng đúng theo yêu cầu của ông D – bà H1. Sau khi nhận hàng, ông D – bà H1 không phàn nàn gì về số lượng, chất lượng, chủng loại hàng hóa nhưng khi thu hoạch Tôm thì ông D – bà H1 không trả dứt điểm tiền nợ. Hai bên giao dịch đến cuối năm 2022, ông D – bà H1 còn nợ lại ông H số tiền là 163.085.000đ (một trăm sáu mươi ba triệu không trăm tám mươi lăm nghìn đồng).

Nay ông Trần Văn H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông D – bà H1 phải liên đới thanh toán số nợ là 163.085.000đ (một trăm sáu mươi ba triệu không trăm tám mươi lăm nghìn đồng). Chị M thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu tính lãi như đơn khởi kiện.

Bị đơn ông Ngô D vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình giải quyết, ông D trình bày: Đúng là năm 2021 đến năm 2022, ông D có hợp đồng mua bán thức ăn nuôi Tôm và thuốc thủy sản. Đến cuối năm 2022, hai bên chốt công nợ thì ông Dũ còn nợ lại 163.085.000đ (một trăm sáu mươi ba triệu không trăm tám mươi lăm nghìn đồng) đúng như nguyên đơn khởi kiện và trình bày. Trong hợp đồng có ghi chiết khấu nhưng nay ông H không chiết khấu là không đúng, yêu cầu trừ chiết khấu cho ông.

Tuy nhiên, ông D chỉ giao dịch mua bán và nuôi Tôm một mình không có liên quan đến vợ. Từ trước đến nay, ông D nuôi Tôm còn vợ ở nhà chăm con, nấu cơm nước cho gia đình không biết đến việc nuôi Tôm của ông, bà H1 chỉ nội trợ trong nhà. Ông D nuôi Tôm thì để có lãi thì để nuôi vợ con chứ vợ con không làm được công việc đó.

Nay, ông D xin gia hạn khi nào nuôi Tôm trúng, có lãi thì mới trả được chứ hiện nay giá Tôm không có nên ông D chưa nuôi, đang bỏ ao trống.

Đối với bị đơn bà Lâm Thị H1 : Dù được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, tại Thông báo thể hiện đầy đủ những tình tiết, sự kiện, tài liệu, yêu cầu khởi kiện của ông H nhưng bà Lâm Thị H1 không phản đối, không có văn bản trình bày ý kiến và nguyện vọng của mình. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án có tiến hành triệu tập các đương sự, bà H1 cũng vắng mặt không có lý do trong các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp trên cho các đương sự được biết và đưa vụ án ra xét xử. Phiên tòa ngày 15/7/2024, bà H1 vẫn vắng mặt và không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa, tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về áp dụng pháp luật tố tụng:

Về tố tụng: Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy: Xét hợp đồng mua bán tài sản được giao kết giữa Hộ Kinh doanh T và bị đơn là vợ chồng ông Ngô D – bà Lâm Thị H1 là thực tế và là sự tự nguyện thỏa thuận giữa các bên, đây là giao dịch dân sự được quy định tại Điều 430 Bộ luật dân sự năm 2015. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Ngô D và bà Lâm Thị H1 đã được triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa, đều vắng mặt không có lý do nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt của mình. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy của nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật và Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt ông Ngô D và bà Lâm Thị H1.

Về nội dung giải quyết:

Hai bên đã thực hiện việc mua bán tài sản như đã thỏa thuận, thể hiện theo lời trình bày của nguyên đơn và thừa nhận của bị đơn Ngô D trong quá trình giải quyết vụ án.

Ngày 12/12/2023 hai bên đối chiếu xác nhận công nợ, cũng như quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và bị đơn Ngô D đều thống nhất xác nhận là ông D nợ của ông H tiền mua thức ăn nuôi Tôm là 163.085.000đ (một trăm sáu mươi ba triệu không trăm tám mươi lăm nghìn đồng), nhưng không thống nhất được thời gian thanh toán và phương thức thanh toán. Từ các căn cứ nêu trên, đối chiếu với quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự, có cơ sở khách quan để kết luận việc giao dịch dân sự giữa các bên đối với việc mua bán tài sản và bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền 163.085.000đ (một trăm sáu mươi ba triệu không trăm tám mươi lăm nghìn đồng) là có căn cứ. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nêu trên cho nguyên đơn là có căn cứ nên được chấp nhận.

Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn ông Ngô D và bà Lâm Thị H1 liên đới trả tiền các khoản nợ trên cho nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án ông D cho rằng ông D chỉ giao dịch mua bán và nuôi Tôm một mình không có liên quan đến vợ. Từ trước đến nay, ông D nuôi Tôm còn vợ ở nhà chăm con, nấu cơm nước cho gia đình không biết đến việc nuôi Tôm của ông, bà H1 chỉ nội trợ trong nhà. Ông D nuôi Tôm thì để có lãi thì để nuôi vợ con chứ vợ con không làm được công việc đó. Xét thấy, việc mua bán thức ăn nuôi Tôm của ông D mục đích để nuôi Tôm, cùng phát triển kinh tế gia đình, tìm kiếm lợi nhuận để phục vụ cho nhu cầu kinh tế chung của gia đình. Ông D và bà H1 là vợ chồng, cùng chung sống, cùng lao động, cùng sinh hoạt trong gia đình. Do đó, ông H yêu cầu ông D – bà H1 cùng liên đới trả các khoản nợ thiếu tiền thức ăn nuôi Tôm là có căn cứ chấp nhận.

Xét ý kiến của bị đơn ông Ngô D xin gia hạn khi nào nuôi Tôm trúng, có lãi thì mới trả được số nợ nêu trên nhưng không được người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đồng ý nên không có căn cứ chấp nhận ý kiến của bị đơn.

Xét ý kiến của bị đơn ông Ngô D yêu cầu phía ông H phải trừ chiết khấu cho ông, nhưng không được người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đồng ý nên không có căn cứ chấp nhận ý kiến của ông D .

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và ông H có đơn yêu cầu thi hành án, vợ chồng ông D – bà H1 còn phải liên đới trả lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Về án phí sơ thẩm: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, vợ chồng ông D – bà H1 phải liên đới chịu án phí có giá ngạch tương ứng với nghĩa vụ thanh toán quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 92, khoản 1 và khoản 2 Điều 143, khoản 1 Điều 144, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 430, Điều 440, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Văn H đối với bị đơn ông Ngô D và bà Lâm Thị H1, về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”.

Buộc ông Ngô D và bà Lâm Thị H1 có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho ông Trần Văn H số tiền nợ là 163.085.000đ (một trăm sáu mươi ba triệu không trăm tám mươi lăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và ông Hảo có đơn yêu cầu thi hành án, ông Ngô D và bà Lâm Thị H1 phải liên đới trả lãi theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Ngô D và bà Lâm Thị H1 phải liên đới chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 8.154.250đ (tám triệu một trăm năm mươi bốn nghìn hai trăm năm mươi đồng).

- Ông Trần Văn H không phải chịu án phí; hoàn trả cho ông H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.624.140đ (bốn triệu sáu trăm hai mươi bốn nghìn một trăm bốn mươi đồng) theo Biên lai thu số 0004802 ngày 17/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu.

3. Nguyên đơn có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án; bị đơn ông Ngô D và bà Lâm Thị H1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.

Cỡ chữ