vanban.org

Bản án 109/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 20/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm b Khoản 2 Điều 318; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Đặng Quốc T;

Điểm b Khoản 2 Điều 318; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Long N; Về trách nhiệm hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Quốc Tuấn - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm b Khoản 2 Điều 318; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Đặng Quốc T;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 109/2023/HS-ST
Ngày 20-4-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hiệp.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Ngọc Phương;

2. Ông Hồ Tấn Tài.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nghĩa - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Tuân - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 04 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 68/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 3 năm 2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 4 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Đặng Quốc T, sinh năm 1999 tại tỉnh Bình Phước; nơi cư trú: Số 434, khu phố Đ, thị trấn Đ, huyện Bù Đ, tỉnh B; tạm trú: Số 50C, khu phố Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Đặng Quốc D và bà Trần Thị D; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 06/8/2020 bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số 58/2020/HSST ngày 06/8/2020, bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 12/5/2021; nhân thân: ngày 17/10/2018 bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 16 tháng theo quyết định số 54/QĐ-TA ngày 17/10/2018; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/3/2022 đến nay, có mặt.

2. Nguyễn Long N, sinh năm 2003 tại tỉnh Hòa Bình; nơi cư trú: Tổ dân phố 9, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; tạm trú: 113, đường N, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn Ph và bà Lê Thị N; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 30/3/2022 đến nay, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Nguyễn Xuân T, sinh năm: 1984, nơi cư trú: số 62, đường V, khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

2. Bà Lê Thị T, sinh năm: 1960, nơi cư trú: Ấp Thiềng L, xã T, huyện Bắc T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt

3. Ông Lê Bá T, sinh năm: 1996, nơi cư trú: Ấp Thiềng L, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Ông Đình Hồng P, sinh năm 1978, vắng mặt.

2. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1979, vắng mặt.

3. Bà Lê Thụy Anh K, sinh năm 1975, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đối tượng tên Đoàn Tấn H và đối tượng Đỗ Vũ Th (Chưa xác định được rõ lai lịch, địa chỉ) là bạn quen biết ngoài xã hội, giữa H và Th có mâu thuẫn với nhau trong việc nợ tiền dẫn đến thách thức đánh nhau. Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 28/3/2022, H kêu bạn là Đặng Ngô Bình A (Chưa xác định được lai lịch, địa chỉ) sử dụng điện thoại của H gọi rủ Đặng Quốc T đi cùng H đến khu vực ngã ba Cửu Long thuộc khu phố Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương để giúp H đánh Th thì T đồng ý. Đến khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, H cùng A và 07 đối tượng khác (Chưa xác định được lai lịch, địa chỉ) đem theo dao tự chế đi đến phòng trọ của T tại địa chỉ: Số 50C, khu phố Đ , phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương rồi bàn bạc cùng đi gặp để đánh Th. Thấy H đem theo hung khí nhưng không đủ nên T đi mua 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng) xăng rồi đi đến quán ăn 179 tại địa chỉ: Đường B, khu phố Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương là nơi T làm việc lấy 02 đoạn cây tre, 01 cây rựa, 03 cây xiên bằng kim loại (dùng để xiên đồ nướng) và khoảng 05-06 vỏ chai bia Tiger bằng thuỷ tinh rồi quay về phòng trọ đưa cho A. A đổ xăng vào các vỏ chai bia rồi dùng vải làm nút và nút chai bia lại để làm bom xăng, H cầm 03 cây xiên kim loại còn các đối tượng đi cùng cầm dao tự chế. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển số: 61E1 – 240.58 chở Hưng và An đi trước, các đối tượng còn lại điều khiển xe mô tô theo sau cùng đi đến khu vực ngã ba Cửu Long theo hẹn với Th nhưng không gặp được Th. Lúc này, H kêu cả nhóm đi đến phòng trọ của Th tại địa chỉ: 35/3 đường B, khu phố Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương tìm Th để đánh thì tất cả đồng ý. Trên đường đi, cả nhóm gặp Nguyễn Long N, Lê Thành Đ và Nguyễn Văn Ngọc H, sinh ngày: 29/07/2007, HKTT: Ấp P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang nên H rủ N, Đ và H tham gia thì được tất cả đồng ý. Khi đến cách Kiot của Th thuê khoảng 10 mét thì cả nhóm dừng lại, H và A đi bộ đến dùng cây xiên đập vào cửa rào, A dùng bom xăng tự chế ném vào góc tường bên ngoài Kiot gây ra tiếng nổ lớn, đồng thời A cầm dao chém vào cửa rào của căn Kiot. Nghe tiếng nổ, Th và một số đối tượng (Chưa xác định được lai lịch, địa chỉ) từ trong Kiot chạy ra rượt đuổi nên nhóm của H cầm hung khí bỏ chạy về hướng khu công nghiệp Đồng An thì lực lượng bảo vệ khu công nghiệp bắt giữ được N, Đ và H giao Công an phường B, thành phố T còn Đặng Quốc T, Đoàn Tấn H và các đối tượng khác bỏ trốn. Đến ngày 29/3/2022, Đặng Quốc T đến Công an phường B, thành phố T đầu thú khai nhận hành vi phạm tội như trên. Ngày 30/3/2022, Công an phường B chuyển nguồn tin tội phạm cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T xử lý theo thẩm quyền.

Tang vật, tài sản tạm giữ: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu đỏ đen, biển số 61E1 – 240.58, số máy: 5B94-128878, số khung: CY128865; 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Winner X màu đỏ đen, biển số 61D2 – 116.45, số máy: KC34E1165857, số khung: RLHKC3707LY102408; 01 (một) cây tre dài 02m, một đầu được cột một cây ba chỉa bằng kim loại dài 40cm, tổng chiều dài 2,4m; 01 (một) con dao tự chế bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn dài 55 cm, bản rộng 03cm, cán dài 07cm và 01 (một) con dao bằng kim loại màu đen hình lưỡi liềm dài 50 cm, bản rộng 04cm, cán dài 30cm; vỏ chai bia bị vỡ.

Cáo trạng số 84/QĐ/KSĐT ngày 08/03/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương đã truy tố các bị cáo Đặng Quốc T và Nguyễn Long N về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T tham gia phiên tòa trình bày quan điểm: Vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng, xác định các bị cáo Đặng Quốc T và Nguyễn Long N về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo và,

- Áp dụng: Điểm b Khoản 2 Điều 318; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Đặng Quốc T mức hình phạt từ 03 năm tù đến 03 năm 06 tháng tù.

- Áp dụng: Điểm b Khoản 2 Điều 318; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Long N mức hình phạt từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng.

- Về xử lý vật chứng:

+ Đề nghị tuyên giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T xác minh làm rõ để xử lý 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Winner X màu đỏ đen, biển số 61D2 – 116.45, số máy: KC34E1165857, số khung: RLHKC3707LY102408.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây tre dài 02m, một đầu được cột một cây ba chỉa bằng kim loại dài 40cm, tổng chiều dài 2,4m; 01 (một) con dao tự chế bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn dài 55 cm, bản rộng 03cm, cán dài 07cm và 01 (một) con dao bằng kim loại màu đen hình lưỡi liềm dài 50 cm, bản rộng 04cm, cán dài 30cm; vỏ chai bia bị vỡ là những hung khí thu giữ của các bị cáo trong vụ án.

- Bị cáo Nguyễn Long N trình bày ý kiến: Thống nhất với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T đã truy tố, xin Hội đồng xét xử xử cho bị cáo mức án nhẹ nhất của đại diện Viện kiểm sát đề nghị để sớm trở về làm người công dân có ích cho xã hội.

- Bị cáo Đặng Quốc T trình bày ý kiến: Thống nhất với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T đã truy tố, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên toà, các bị cáo Đặng Quốc T và Nguyễn Long N đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố T đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 28/3/2022 tại trước phòng trọ địa chỉ: 35/3 đường B, khu phố Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, các bị cáo Đặng Quốc T và Nguyễn Long N đã có hành vi dùng hung khí là đoạn cây tre có một đầu có gắn cây xiên bằng kim loại, bom xăng và dao tự chế bằng kim loại gây rối trật tự công công cộng ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Hành vi của các bị cáo Đặng Quốc T và Nguyễn Long N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự cộng” thuộc tình tiết định khung là “Dùng hung khí” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố T truy tố các bị cáo Đặng Quốc T và Nguyễn Long N về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi gây rối trật tự công cộng của mình là vi phạm pháp luật hình sự và sẽ bị xử lý nhưng cố ý thực hiện. Do vậy, cần xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với tính chất hành vi của các bị cáo để có tác dụng răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân:

+ Bị cáo Nguyễn Long N có nhân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

+ Bị cáo Đặng Quốc T, ngày 17/10/2018 bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 16 tháng theo quyết định số 54/QĐ-TA ngày 17/10/2018; ngày 06/8/2020 bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy tại bản án số 58/2020/HSST ngày 06/8/2020.

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

+ Bị cáo Nguyễn Long N phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

+ Bị cáo Đặng Quốc T: Ngày 06/8/2020 bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy tại bản án số 58/2020/HSST ngày 06/8/2020, bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 12/5/2021 chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được xem xét áp dụng Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; bị cáo Đặng Quốc T sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên được áp dụng Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về đồng phạm: Các bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, tuy nhiên bị cáo Đặng Quốc T là người chuẩn bị hung khí, bom xăng cho các đối tượng khác nên cần xử phạt mức hình phạt cao hơn. Xét các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng nên cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo xử phạt bị cáo Đặng Quốc T mức hình phạt từ 03 năm tù đến 03 năm 06 tháng tù xử phạt bị cáo Nguyễn Long N mức hình phạt từ 02 năm 03 tháng tù đến 02 năm 06 tháng tù là phù hợp nên được chấp nhận;

Đối với hành vi gây rối trật tự công cộng của Lê Thanh Đ, Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định khởi tố bị can, tuy nhiên quá trình điều tra Lê Thanh Đ đã bỏ trốn nên ngày 08/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ra Quyết định tách vụ án hình sự, Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự và tạm đình chỉ điều tra bị can, khi nào bắt được sẽ phục hồi xử lý theo quy định.

Đối với hành vi của các đối tượng Đoàn Tấn H, Đỗ Vũ Th, Đặng Ngô Bình A, Nguyễn Văn Ngọc H và các đối tượng khác chưa rõ nhân thân, lai lịch sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã bỏ trốn. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được rõ nhân thân, lai lịch cụ thể. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T cần tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý theo quy định.

Về xử lý vật chứng:

- 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Winner X màu đỏ đen, biển số 61D2 – 116.45, số máy: KC34E1165857, số khung: RLHKC3707LY102408 do ông Nguyễn Xuân T đứng tên chủ sở hữu. Ông T khai cho bạn tên T (Chưa xác định được lai lịch, địa chỉ) mượn để đi công việc vào ngày 19/3/2022 để làm phương tiện đi lại. Do chưa xác định được đối tượng sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện tham gia cùng các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần tiếp tục giao xe này cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T xác minh làm rõ để xử lý.

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu đỏ đen, biển số 61E1 – 240.58, số máy: 5B94-128878, số khung: CY128865 do bà Lê Thị Th đứng tên chủ sỡ hữu. Bà Th giao xe này cho con trai ruột là Lê Bá T làm phương tiện đi lại. Ngày 28/3/2022, ông Thành cho Đặng Quốc T mượn để đi công việc không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã trả lại cho bà Th là đúng quy định của pháp luật.

- 01 (một) cây tre dài 02m, một đầu được cột một cây ba chỉa bằng kim loại dài 40cm, tổng chiều dài 2,4m; 01 (một) con dao tự chế bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn dài 55 cm, bản rộng 03cm, cán dài 07cm và 01 (một) con dao bằng kim loại màu đen hình lưỡi liềm dài 50 cm, bản rộng 04cm, cán dài 30cm; vỏ chai bia bị vỡ là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Về án phí: Các bị cáo Đặng Quốc T và Nguyễn Long N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

+ Điểm b Khoản 2 Điều 318; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Đặng Quốc T;

+ Điểm b Khoản 2 Điều 318; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Long N;

+ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

+ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

1. Về trách nhiệm hình sự:

- Tuyên bố các bị cáo Đặng Quốc T và Nguyễn Long N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”

+ Xử phạt bị cáo Đặng Quốc T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 29/3/2022.

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Long N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 30/3/2022.

Yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục xác minh, làm rõ nhân thân, lai lịch của các đối tượng Đoàn Tấn H, Đỗ Vũ Th, Đặng Ngô Bình A, Nguyễn Văn Ngọc H và các đối tượng khác có hành vi gây rối trật tự công cộng ngày 28/3/2022 để xử lý theo quy định của pháp luật.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây tre dài 02m, một đầu được cột một cây ba chỉa bằng kim loại dài 40cm, tổng chiều dài 2,4m; 01 (một) con dao tự chế bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn dài 55 cm, bản rộng 03cm, cán dài 07cm và 01 (một) con dao bằng kim loại màu đen hình lưỡi liềm dài 50 cm, bản rộng 04cm, cán dài 30cm; vỏ chai bia bị vỡ.

- Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T : 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Winner X màu đỏ đen, biển số 61D2 – 116.45, số máy: KC34E1165857, số khung: RLHKC3707LY102408 để tiếp tục xác minh xử lý theo quy định của pháp luật.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/4/2023 giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T).

3. Về án phí: Các bị cáo Đặng Quốc T và Nguyễn Long N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.

Cỡ chữ