vanban.org

Bản án 109/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 24/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Ngô Thị N phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Xử phạt bị cáo Ngô Thị N 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Tiếp tục duy trì lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Thị N phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Thị N phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
———————
Bản án số: 109/2023/HS-ST
Ngày 21-4-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Lệ Chi.

2. Ông Phan Văn Cƣờng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, là Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 4 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 102/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 125/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Ngô Thị N, sinh năm 1996 tại tỉnh Nghệ An; thƣờng trú: Xóm 5, xã D, huyện C, tỉnh Nghệ An; tạm trú: 6/9 khu phố T, phƣờng Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Ngô Sỹ H, sinh năm 1968 và Phạm Thị T, sinh năm 1969; chồng tên Nguyễn Hoàng Tuấn T, sinh năm 1991 và có 01 con, sinh năm 2021; có 01 anh ruột, sinh năm 1992; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 29/9/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Thái Nguyên ra quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can và lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú đối với Ngô Thị N về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị hại: Công ty Cổ phần đầu tƣ T; trụ sở: Số 222 Yersin, phƣờng P, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Hồ Thị Minh N1, sinh năm 1991; địa chỉ: Số 15, đƣờng số 9, khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, là ngƣời đại diện theo ủy quyền. Vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Chị Tô Thị Mỹ T, sinh năm 2002; địa chỉ: Số 61, đƣờng 13, khu phố T, phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.

2/ Anh Đinh Toàn D, sinh năm 1982; địa chỉ: Số 24/59, khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Người làm chứng: Chị Phạm Thị Thanh T. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Ngô Thị N không có nghề nghiệp ổn định. Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 10/7/2022, N đi bộ đến cửa hàng thế giới di động tại đƣờng N, khu phố N, phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Tại đây, N gặp chị Hồ Thị Minh N1 là quản lý của cửa hàng và chị Tô Thị Mỹ T là nhân viên tƣ vấn bán hàng. N nói với chị T muốn đƣợc xem chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy Z Fold 3 (5G) màu xanh thì chị T đƣa cho N xem và báo giá là 32.900.000 đồng thì N đồng ý mua. Sau đó, N nói dối là không mang đủ tiền nên yêu cầu chị Tâm giao điện thoại tận nhà N ở 6/9 khu phố T, phƣờng Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng rồi sẽ trả tiền, chị N1 và chị T đồng ý. N kết bạn zalo rồi gửi định vị địa chỉ nhà cho chị T đến để giao điện thoại. N yêu cầu nhân viên giao hàng phải là nữ và dặn không đƣợc nói cho mẹ N biết. Khoảng 16 giờ cùng ngày, chị T xuất hóa đơn sản phẩm bán hàng là chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy Z Fold 3 (5G) màu xanh trị giá là 32.900.000 đồng rồi mang đến số nhà 6/9 khu phố T, phƣờng Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Khi đến nơi chị Tâm đƣa cho N xem hộp đựng điện thoại và xác nhận đúng điện thoại đã đặt mua. Chị T yêu cầu N chuyển tiền mua điện thoại rồi mới đƣợc mở hộp kiểm tra điện thoại. Lúc này, N dùng điện thoại Samsung A13 màu xanh, sim số 0896967790 của N để đặt lệnh chuyển số tiền 32.900.000 đồng (thực tế tài khoản của N không có tiền, đặt lệnh chuyển tiền khi nào có tiền hệ thống tự động chuyển qua tài khoản) để chuyển cho chị T. N đƣa cho chị T xem màn hình điện thoại nhằm mục đích lừa chị T, để chị T tin tƣởng là N đã chuyển tiền xong. Khi chị T kiểm tra tài khoản thì chƣa nhận đƣợc số tiền mà N chuyển, N nói dối là do chuyển thƣờng nay cuối tuần hệ thống chậm, từ từ sẽ qua. Chị T ngồi tại nhà N chờ đến khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày vẫn chƣa nhận đƣợc tiền từ tài khoản của N chuyển. N nói với chị T chờ N để N đi rút tiền đƣa cho chị T. N cầm điện thoại Samsung Galaxy Z Fold 3 (5G) đi ra khỏi nhà và đặt xe grab đi đến cửa hàng thế giới di động A tại số 5/24A khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng để bán chiếc điện thoại Samsung Galaxy Z Fold 3 (5G) vừa chiếm đoạt đƣợc nhƣng không bán đƣợc do nhân viên cửa hàng kiểm tra trên hệ thống xuất hóa đơn 0 đồng để bán hàng và chƣa nhận đƣợc tiền. Thấy vậy, N sợ bị phát hiện nên cầm chiếc điện thoại Samsung Galaxy Z Fold 3 (5G) bỏ đi. N mang chiếc điện thoại Samsung Galaxy Z Fold 3 (5G) đến tiệm cầm đồ T 2 tại số 513 đƣờng N, khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng cầm cố cho anh Đinh Toàn D với số tiền 15.000.000 đồng. Đến 19 giờ cùng ngày, chị T chờ lâu không thấy N quay lại nên chị T đã đi về cửa hàng thế giới di động và báo cho chị N1 biết. Khoảng 12 giờ ngày 14/7/2022, N gọi điện thoại nói anh D mang chiếc điện thoại Samsung Galaxy Z Fold 3 (5G) đến cửa hàng thế giới di động A bán lấy tiền để trả tiền cầm đồ cho anh D, nếu còn thừa thì đƣa cho N, anh D đồng ý. Đến khoảng 15 giờ 40 phút cùng ngày, anh D mang chiếc điện thoại Samsung Galaxy Z Fold 3 (5G) màu xanh đi đến cửa hàng thế giới di động A để bán điện thoại. Khi nhân viên cửa hàng kiểm tra chiếc điện thoại thì phát hiện chiếc điện thoại đang bị đánh dấu trên hệ thống nên đã thông báo cho cửa hàng thế giới di động khu phố N biết và trình báo công an phƣờng A để mời anh Dũng về trụ sở làm việc. Cùng ngày, chị T đến công an phƣờng D trình báo sự việc, riêng N đã bỏ trốn.

Khoảng cuối tháng 9/2022 N đi đến thành phố P, tỉnh Thái Nguyên tiếp tục thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác nên bị Phòng an ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao công an tỉnh Thái Nguyên bắt giữ.

Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động Samsung Galaxy Z Fold 3 (5G) màu xanh.

Kết luận định giá tài sản số 121/BB.ĐG-HĐĐGTS ngày 08/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản thƣờng xuyên trong Tố tụng Hình sự, Ủy ban nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng kết luận trị giá chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy Z Fold 3 (5G) màu xanh là 19.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, bị cáo, bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá tài sản kể trên.

Tại Cáo trạng số 121/CT – VKS-DA ngày 31 tháng 3 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Ngô Thị N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm i, s, n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Trách nhiệm dân sự: Đề nghị buộc bị cáo có nghĩa vụ bồi thƣờng cho anh Đinh Toàn D số tiền 15.000.000đ.

Tại đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị cáo Ngô Thị N xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo đồng ý bồi thƣờng cho anh Dũng số tiền 15.000.000đ.

Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Đinh Toàn D yêu cầu bị cáo trả số tiền 15.000.000đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo và ngƣời tham gia tố tụng không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Bị cáo Ngô Thị N có yêu cầu giải quyết vắng mặt, căn cứ vào khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị cáo.

Về chứng cứ xác định có tội: Vào ngày 10/7/2022 Ngô Thị N có hành vi dùng thủ đoạn gian dối lừa đảo chiếm đoạt 01 điện thoại Samsung Galaxy Z Fold 3 (5G) màu trị giá xanh 19.000.000 đồng của Cửa hàng thế giới di động tại đƣờng N, khu phố N, phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng số 121/CT-VKS-DA ngày 31 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhƣng đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng; bị cáo là phụ nữ có thai. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s, n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo chƣa có tiền án, tiền sự; tuy nhiên hiện bị cáo còn bị Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên khởi tố về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên Hội đồng xét xử cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt.

Trách nhiệm dân sự: Tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại không còn yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với số tiền 15.000.000đ bị cáo nhận từ anh Đinh Toàn D khi cầm cố điện thoại di động Samsung Galaxy Z Fold 3 (5G) màu xanh, điện thoại đã thu hồi trả lại cho bị hại, quá trình tố tụng anh Dũng yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền trên. Xét yêu cầu của anh Dũng là phù hợp với quy định của pháp luật, đồng thời bị cáo N cũng đồng ý nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Đối với anh Đinh Toàn D cầm cố điện thoại di động Samsung Galaxy Z Fold 3 (5G) màu xanh cho bị cáo N với số tiền 15.000.000đ, tuy nhiên anh Dũng không biết tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên không đề nghị xem xét xử lý là đúng quy định của pháp luật.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Ngô Thị N phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm i, s, n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Ngô Thị N 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Tiếp tục duy trì lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

2. Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 468, 584, 589 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 19/9/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Buộc bị cáo Ngô Thị N bồi thƣờng cho anh Đinh Toàn D 15.000.000 (mƣời lăm triệu) đồng.

Kể từ ngày ngƣời đƣợc thi hành án có yêu cầu thi hành án, nếu ngƣời phải thi hành án chậm trả số tiền trên thì hàng tháng ngƣời phải thi hành án còn phải trả cho ngƣời đƣợc thi hành án khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tƣơng ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Ngô Thị N phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 750.000 (bảy trăm năm mƣơi nghìn) đồng án phí dân sự bồi thƣờng.

Bị cáo, bị hại và ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Bản án này đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ