vanban.org

Bản án 109/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 28/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: 1/ Bị cáo Nguyễn Nhất P 05 (năm) năm 04 (bốn) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày 22/02/2022.

2/ Bị cáo Trương Ngọc P1 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày 28/3/2023. Xử phạt: 3/ Bị cáo Nguyễn Thanh T 05 (năm) năm 02 (hai) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp với hình phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Cướp giật tài sản”… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "109 - 2023 Nguyễn Nhất P & ĐP - điểm c K3 Đ134 - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật s…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: 1/ Bị cáo Nguyễn Nhất P 05 (năm) năm 04 (bốn) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày 22/02/2022.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 109/2023/HS-ST
Ngày: 28 – 7 – 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Trúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Đặng Thu Vân.

2/ Bà Phan Thị Diễm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Sơn Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Khuê – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 63/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 168/2023/QĐXXST-HS, ngày 29 tháng 6 năm 2023, đối với các bị cáo:

1/ Nguyễn Nhất P, sinh năm: 1990, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú (Hộ khẩu thường trú: Số 1051/41/21C HG, Phường MM, Quận S, Thành phố HCM; chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Đinh Thị H1; chung sống như vợ chồng với Hứa Trúc L1 (sinh năm: 1993) vào 2015 và chưa có con chung; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 08/3/2018, bị Công an Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm vi phạm hành chính, với số tiền 1.500.000 đồng, về hành vi “đánh bạc’’ và ngày 13/3/2013 đã thi hành xong.

Bị cáo ra đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/02/2022 đến nay. (Có mặt).

2/ Trương Ngọc P1 (tên gọi khác: Nổi Em); giới tính: Nam; sinh năm: 1993, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú (Hộ khẩu thường trú: Số 41/1A LVC, Phường ML, Quận T, Thành phố HCM; chỗ ở: Số 149 LHP, Phường ML, Quận T, Thành phố HCM); nghề nghiệp: Thợ hồ; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Bỉnh Q1 (đã chết) và bà Lê Thị Thanh C1; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tốt.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/3/2023 đến nay. (Có mặt).

3/ Nguyễn Thanh T (tên gọi khác: Tư Nữa); giới tính: Nam; sinh năm: 2002, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Số 995/56/13 Hồng Bàng, Phường 12, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Số 166/1/3 LHP, Phường ML, Quận T, Thành phố HCM); nghề nghiệp: Thợ hồ; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T2 và bà Dương Cẩm H2; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án hình sư sơ thẩm số 85/2023/HS-ST ngày 24/4/2023, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Cướp giật tài sản”.

Bị cáo bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh bắt tạm giữ, tạm giam (trong vụ án “Cướp giật tài sản”) từ ngày 02/9/2022 đến nay. (Có mặt).

- Bị hại: Ông Trương Quốc T3, sinh năm: 1978; nơi cư trú: Số 20/8 MC, Phường ML, Quận T, Thành phố HCM. (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Bà Lê Thị Diễm H2, sinh năm: 1977; nơi cư trú (Hộ khẩu thường trú: Số 325/33 BĐ, Phường ML, quận BT, Thành phố HCM; chỗ ở: Số 20/8 MC, Phường ML, Quận T, Thành phố HCM). (Có mặt).

2/ Ông Huỳnh Trọng L2, sinh năm: 1987; nơi cư trú: Số 237/5/1 LHP, Phường ML, Quận T, Thành phố HCM. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do mâu thuẫn việc ông Huỳnh Trọng L2 nợ tiền của một người phụ nữ tên Vy (không rõ lai lịch, là bạn gái của Nguyễn Quốc D1), nên vào ngày 03/11/2021, D1 và Vy rủ Nguyễn Thanh T, Trương Ngọc P1 cùng đi tìm ông L2 đòi tiền nợ. D1 điều khiển xe mô tô hiệu Vision (không rõ biển số) chở Vy chạy trước, còn P1 điều khiển xe mô tô hiệu Wave (không rõ biển số) chở T chạy phía sau. Khi cả nhóm đi đến chùa Ngọc Quang, Phường 15 Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh thì D1 gặp và chặn xe của ông Huỳnh Trọng L2; tại đây, Vy yêu cầu ông L2 trả tiền nợ cho Vy thì hai bên xảy ra cự cãi nhau, ông L2 vung tay tát một cái vào mặt của Vy và Vy cầm nón bảo hiểm đánh trả và trúng vào đầu ông L2; thấy vậy, T kẹp cổ, khóa tay ông L2, còn D1 cầm nón bảo hiểm đánh ông L2, riêng P1 dùng tay không đánh ông L2. Do có một mình nên ông L2 bỏ chạy về hướng đường LHP, Phường ML, Quận T. Lúc này ông Trương Quốc T3 thấy vậy liền cầm cây sắt phơi đồ xông ra giải vây cho ông L2, nên nhóm của D1 điều khiển xe bỏ chạy. Sau đó, D1 gặp và kể cho P nghe sự việc trên thì được P đồng ý cùng D1 đi tìm ông T3, ông L2 để nói chuyện giảng hòa, nhưng bất thành; nên D1 rủ P đánh ông T3, ông L2 thì P đồng ý.

Vào khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 04/11/2021, Nguyễn Quốc D1 điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở Nguyễn Nhất P mang theo một cây mã tấu, một người thanh niên tên gọi là Cỏn (không rõ lai lịch) điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở Phạm Nguyễn Hoài Linh mang theo một cây mã tấu, P1 điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở T ngồi sau. Khi đến quán nhậu Cây Điều (trên đường LHP, Phường ML, Quận T) thì D1 nhìn thấy ông T3 và ông L2 đang ngồi uống nước tại bờ kè (trước số 265 đường LHP, Phường ML, Quận T) thì D1 dừng xe lại, lấy cây mã tấu trên xe của Linh rồi cùng P cầm mã tấu đuổi chém ông T3 và ông L2; phía ông T3 nhặt một cây sắt dài khoảng 2,5 mét (dùng treo lồng chim) gần đó giơ lên đỡ tự vệ rồi cùng ông L2 bỏ chạy vào khu nhà trọ số 265 đường LHP, Phường ML, Quận T. Lúc này, Linh đuổi theo và cầm một cái ly thủy tinh ném về hướng ông T3 và ông L2. Trong lúc bỏ chạy, ông L2 bị té ngã; thấy vậy, P và D1 xông đến chém ông L2, nhưng lại trúng vào cổ tay, lòng bàn tay phải và khuỷu tay phải của ông T3 gây thương tích (do khi nhìn thấy ông L2 bị té ngã, ông T3 giơ tay định kéo ông L2 đứng dậy thì bị P và D1 chém trúng vào cổ tay, lòng bàn tay phải và khuỷu tay phải của ông T3); còn ông L2 bị D1 dùng sống lưng mã tấu chém vào cẳng tay trái, vai trái, vai phải gây xây sát da. Thấy đánh nhau, nên bà Lê Thị Diễm H2 (là vợ của ông T3) đang ở gần đó đến can ngăn thì bị nhóm người đi cùng D1 đẩy té ngã và bị xây sát da ở lòng bàn tay trái. Riêng Cỏn, P1 và T thấy những người bị nhóm của D1 đánh không có đánh lại P, D1 và Linh và cũng không có ai ngăn cản việc nhóm của D1 đánh ông T3, ông L2 (ngoài bà H2 là vợ của ông T3); nên cả ba vẫn tiếp tục ngồi trên xe và cảnh giới cho D1, Linh, P. Thấy ông T3 bị thương tích, chảy máu, nên cả nhóm cầm theo hung khí lên xe cùng đồng bọn bỏ chạy khỏi hiện trường. Sau đó, ông T3 được đưa đến bệnh viện Chợ Rẫy cấp cứu và bà H2 đến Công an Phường 15, Quận 8 trình báo sự việc.

Đến ngày 22/02/2022, Nguyễn Nhất P tự đến Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đầu thú và khai nhận toàn bộ sự việc cùng đồng phạm đánh ông T3, ông L2 như trên. Ngày 06/4/2022, Phòng PC 02 Công an Thành phố Hồ Chí Minh tuần tra phát hiện Nguyễn Thanh T và Trương Ngọc P1 có biểu hiện nghi vấn, nên mời về trụ sở Công an Phường 15, Quận 8 làm việc. Qua làm việc, T và P1 khai nhận có tham gia cùng Nguyễn Nhất P trong vụ cố ý gây thương tích vào ngày 04/11/2021, nên vụ việc được bàn giao cho Đội Cảnh sát Điều tra Tội phạm về Trật tự xã hội Công an Quận 8 xử lý theo thẩm quyền.

Theo bản Kết luận giám định Pháp y về thương tích số 847/TgT.21 ngày 27/12/2021 của Trung tâm Pháp y – Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh đối với thương tích của ông Trương Quốc T3 như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

Theo hồ sơ bệnh án Bệnh viện Chợ Rẫy, nhập viện ngày 04/11/2021:

- Vết thương phần mềm vùng mặt sau khuỷu tay phải đã được điều trị khâu da, hiện còn một sẹo kích thước 8,5x(0,1-0,3)cm, ổn định.

Có tỉ lệ 02% (hai phần trăm).

Vết thương do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra.

- Vết thương mặt trước cổ bàn tay phải gây đứt da, đứt gân gấp nông, gân gấp sâu ngón II, III, IV, đứt thần kinh giữa, gãy xương vùng cổ tay, bán trật hàng xương cổ tay đã được điều trị mở rộng vết thương, xuyên kim kết hợp xương, nắn lại hàng xương cổ tay, khâu thần kinh, khâu gân, khâu da, hiện còn:

+ Một sẹo kích thước 11x0,1cm.

+ Một sẹo mổ kích thước 4,5x0,1cm

+ Hình ảnh gãy xương cả có dụng cụ kết hợp xương, gãy xương nguyệt trên phim Xquang.

+ Tổn thương hoàn toàn thần kinh giữa, tổn thương nặng không hoàn toàn thần kinh trụ ngang mức cổ tay trên điện cơ đồ.

+ Hạn chế vận động các ngón, hạn chế một phần gấp duỗi cổ tay.

Có tỉ lệ 30% (ba mươi phần trăm).

Vết thương do vật sắc, vật sắc nhọn tác động gây ra.

- Vết thương vùng đốt xa ngón IV tay phải gây đứt da, móng tay đã được điều trị khâu vết thương, hiện còn một sẹo kích thước 1,5x0,1cm có phần trong móng, ổn định.

Có tỉ lệ 02% (hai phần trăm).

Vết thương do vật sắc, vật sắc nhọn tác động gây ra.

- Ngoài các thương tích như đã nêu trên thì theo Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể lập ngày 11/11/2021 còn ghi nhận: Chấn thương vùng mắt cá ngoài chân phải, hiện còn một diện tang giảm sắc tố kích thước 1,5x1cm, ổn định.

Có tỉ lệ 01% (một phần trăm).

Chấn thương do vật tày nhám tác động hoặc phần cơ thể tác động vào vật tày nhám gây ra.

Cộng các tỉ lệ trên theo Thông tư 22/2019/TT-BYT sẽ ra tỉ lệ 33% (ba mươi ba phần trăm).

2. Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ y tế quy định tỉ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần:

- Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 33% (ba mươi ba phần trăm).

3. Kết luận khác:

- Tất cả các thương tích trên không gây nguy hiểm tính mạng đương sự.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, ông Huỳnh Trọng L2 và bà Lê Thị Diễm H2 từ chối đi giám định tỉ lệ thương tật, không yêu cầu khởi tố vụ án, không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người gây thương tích cho ông L2 và bà H2 (do thương tích không đáng kể, tự điều trị).

Ngày 04/01/2022, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Nguyễn Nhất P, về hành vi “Cố ý gây thương tích”. Ngày 01/11/2022, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đã ra Quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Quốc D1 và đến ngày 20/3/2023 tiếp tục khởi tố đối với Trương Ngọc P1, Nguyễn Thanh T và Phạm Nguyễn Hoài Linh.

Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh; Trương Ngọc P1, Nguyễn Thanh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Đối với Nguyễn Quốc D1 và Phạm Nguyễn Hoài Linh sau khi phạm tội đã bỏ trốn, nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh chưa ghi được lời khai. Riêng Nguyễn Nhất P khai nhận cùng Nguyễn Quốc D1 thực hiện hành vi cố ý gây thương tích cho ông Trương Quốc T3, nhưng P không thừa nhận tham gia cùng T và P1 (vì P không biết T và P1, P cũng không có rủ T, P1 tham gia đánh nhau, việc T và P1 đi theo nhóm của P, D1, Linh, Cỏn lúc nào thì P không rõ). P1 và T cùng thừa nhận nội dung lời khai của P như trên, đồng thời xác nhận D1 là người đã rủ P1 tham gia đánh nhau và sau đó P1 rủ thêm T cùng tham gia để tạo số đông; do P1 và T điều khiển xe gắn máy chạy theo cùng, nên P không thể biết, P1 và T không có chuẩn bị hung khí trước khi đi đánh nhau.

Vật chứng vụ án: Không thu giữ được.

Trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn điều tra, ông Trương Quốc T3 yêu cầu Nguyễn Quốc D1, Nguyễn Nhất P cùng đồng phạm bồi thường số tiền 411.539.000 (bốn trăm mười một triệu năm trăm ba mươi chín nghìn đồng) gồm: Chi phí cứu chữa, điều trị thương tích; thu nhập bị thiệt hại trong thời gian điều trị thương tích; tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm hại). Tại phiên tòa, ông T3 chỉ yêu cầu được bồi thường một lần tổng cộng số tiền 411.000.000 (bốn trăm mười một triệu) đồng (gồm tất các các khoản như nêu trên).

Tại phiên tòa, các bị cáo đồng ý cùng chịu trách nhiệm liên đới bồi thường số tiền nêu trên cho bị hại Trương Quốc T3 {theo tỉ lệ chia đều cho 03 bị cáo, mỗi bị cáo chịu 1/3 của số tiền 411.000.000 đồng là 137.000.000 đồng (411.000.000 đồng chia cho 03 bị cáo)}, nhưng xin được bồi thường nhiều lần sau khi chấp hành án trở về và các bị cáo không có tranh chấp với các đồng phạm khác còn lại trong vụ án về số tiền mà các bị cáo phải bồi thường cho hại T3. Riêng bị cáo Nguyễn Nhất P đã tác động đến gia đình thực hiện bồi thường trước một phần thiệt hại cho bị hại T3, với số tiền là 30.000.000 đồng để nhằm khắc phục trước một phần hậu quả của vụ án do bị cáo và các đồng phạm đã gây ra (đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh) và bị cáo P xin được trừ số tiền này trong số tiền mà bị cáo phải thực hiện bồi thường cho bị hại T3.

Đối với Nguyễn Quốc D1 và Phạm Nguyễn Hoài Linh, sau khi phạm tội đã bỏ trốn; nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đã ra Quyết định tách vụ án hình sự đối với D1 và Linh, đồng thời ra Quyết định truy nã đối với D1 và Linh và sẽ xử lý sau, theo quy định của pháp luật.

Riêng đồng phạm trong vụ án là người thanh niên tên Cỏn, và người phụ nữ tên Vy (là bạn gái của Nguyễn Quốc D1) do không xác định được lai lịch; nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh không có đủ cơ sở để xem xét xử lý trong vụ án này; đồng thời Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn đang tiếp tục điều tra để làm rõ và sẽ xử lý sau, theo quy định của pháp luật.

* Bản cáo trạng số 74/CT-VKS-Q8 ngày 04/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo: Nguyễn Nhất P, Trương Ngọc P1, Nguyễn Thanh T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c Khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

* Tại phiên tòa, kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c Khoản 3 Điều 134; (nhưng thuộc trường hợp quy định tại điểm a, điểm i Khoản 1 Điều 134); điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử phạt:

1/ Bị cáo Nguyễn Nhất P mức án từ 05 (năm) năm 04 (bốn) tháng tù đến 06 (sáu) năm tù.

2/ Bị cáo Trương Ngọc P1 mức án từ 05 (năm) năm tù đến 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù.

- Áp dụng điểm c Khoản 3 Điều 134; (nhưng thuộc trường hợp quy định tại điểm a, điểm i Khoản 1 Điều 134); điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 50; Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử phạt:

3/ Bị cáo Nguyễn Thanh T mức án từ 05 (năm) năm tù đến 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật T3 sản” theo bản án số 85/2023/HS-ST ngày 24/4/2023 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố hồ Chí Minh; buộc bị cáo Nguyễn Thanh T phải chấp hành hình phạt tù chung của cả 02 (hai) Bản án theo quy định của pháp luật.

- Về trách nhiệm dân sự: Buộc các bị cáo liên đới bồi thường cho bị hại T3 một lần số tiền theo yêu cầu của bị hại mà bị cáo đã đồng ý, ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật, thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền. Riêng bị cáo P được trừ ra số tiền đã bồi thường trước là 30.000.000 đồng (đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh).

- Về vật chứng: Không thu hồi được, nên không xem xét xử lý.

* Các bị cáo Nguyễn Nhất P, Trương Ngọc P1, Nguyễn Thanh T cùng thừa nhận hành vi phạm tội đã thực hiện và không tranh luận, không bào chữa; các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình. Các bị cáo cùng có lời xin lỗi bị hại T3 và mong được bị hại T3 tha thứ về lỗi lầm của các bị cáo đã gây ra thương tích cho bị hại T3. Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại và tỷ lệ bồi thường mỗi bị cáo là 137.000.000 đồng (411.000.000 đồng/3). Riêng bị cáo P xin được trừ ra số tiền 30.000.000 đồng (đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh) trong số tiền phải bồi thường cho bị hại T3.

* Bị hại Trương Quốc T3: Ông T3 yêu cầu xét xử các bị cáo theo đúng quy định của pháp luật, ông T3 chấp nhận lời xin lỗi của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay. Về trách nhiệm dân sự: Ông T3 yêu cầu các bị cáo liên đới bồi thường một lần cho ông T3 tổng cộng số tiền là 411.000.000 đồng, do các bị cáo cùng đồng phạm đã gây ra thương tích cho ông T3.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Lê Thị Diễm H2 và ông Huỳnh Trọng L2 yêu cầu xét xử các bị cáo theo đúng quy định của pháp luật, ngoài ra không có yêu cầu gì khác trong vụ án này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh; của Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh; của Kiểm sát viên, của bị hại và những người tham gia tố tụng khác: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, không có khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Nhất P, Trương Ngọc P1, Nguyễn Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện vào ngày 04/11/2021 như nội dung Cáo trạng đã nêu. Hậu quả gây nên thương tích cho bị hại là ông Trương Quốc T3, với tỉ lệ tổn thương cơ thể hiện tại là 33% (ba mươi ba phần trăm).

Xét lời khai nhận của các bị cáo Nguyễn Nhất P, Trương Ngọc P1, Nguyễn Thanh T cơ bản phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án và phù hợp với nội dung Cáo trạng truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

Mặc dù các bị cáo Nguyễn Nhất P, Trương Ngọc P1, Nguyễn Thanh T và các đồng khác (hiện bỏ trốn) gây ra thương tích cho bị hại T3, với tỉ lệ tổn thương cơ thể hiện tại là 33 % (ba mươi ba phần trăm), nhưng các bị cáo đã sử dụng mã tấu bất ngờ tấn công gây ra thương tích cho bị hại T3; nên được xác định là “hung khí nguy hiểm”. Đây là tình tiết được quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Ngoài ra, mặc dù giữa các bị cáo Nguyễn Nhất P, Trương Ngọc P1, Nguyễn Thanh T cùng các đồng khác (hiện bỏ trốn) và bị hại T3 không có xảy ra mâu thuẫn đáng kể với nhau; nhưng các bị cáo Nguyễn Nhất P, Trương Ngọc P1, Nguyễn Thanh T và các đồng khác (hiện bỏ trốn) đã tấn công gây thương tích cho bị hại T3, thể hiện tính hung hăng, côn đồ và xem thường pháp luật; nên các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “có tính chất côn đồ”. Đây là tình tiết được quy định tại điểm i Khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Do đó, đã có đủ cơ sở để kết luận: Các bị cáo cáo Nguyễn Nhất P, Trương Ngọc P1, Nguyễn Thanh T đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c Khoản 3 Điều 134 (nhưng thuộc trường hợp quy định tại điểm a, điểm i Khoản 1 Điều 134) Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Nhất P, Trương Ngọc P1, Nguyễn Thanh T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về lỗi lầm đã gây ra; các bị cáo phạm tội lần đầu, có quá trình nhân thât tốt (trừ bị cáo P); bị cáo P sau khi phạm tội đã ra đầu thú và đã tác động đến gia đình của bị cáo để thực hiện bồi thường trước một phần thiệt hại về sức khỏe cho phía hại nhằm khắc phục một phần hậu quả của vụ án mà bị cáo P đã tham gia cùng các đồng phạm gây ra (đã nộp số tiền 30.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh); gia đình bị cáo có đóng góp cho địa phương (đóng góp bằng vật chất để ủng hộ “Quỹ vì người nghèo” và “Quỹ phòng chống thiên tai), qua đó nhằm góp một phần vào sự phát triển chung của xã hội. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho từng bị cáo một phần về hình phạt mà lẽ ra các bị cáo phải chịu.

Về tính đồng phạm trong vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và qua xét hỏi tại phiên tòa, có cơ sở xác định hành vi phạm tội của các bị cáo mang tính đồng phạm giản đơn, không có tính tổ chức; trong vụ án, các bị cáo P, P1, T là các đồng phạm giúp sức (trong đó, bị cáo P là người trực tiếp cùng tham gia tấn công gây ra thương tích cho bị hại T3; bị cáo T và P1 mặc dù không trực tiếp tham gia tấn công gây ra thương tích cho bị hại T3, nhưng với vai trò cảnh giới (quan sát xung quanh, nếu bị hại hay bất cứ ai chống trả hay can ngăn thì các bị cáo sẽ tham gia cùng đồng bọn tấn công) và tạo nên số đông để áp đảo tinh thần của những người bị tấn công cũng như những người dân sống trong khu vực khi có hành động căn ngăn hay truy hô. Ngoài ra, bị cáo Trương Ngọc P1, sau khi được Nguyễn Quốc D1 rủ đi đánh nhau, bị cáo đã đồng ý ngay và sau đó bị cáo lại rủ thêm bị cáo Nguyễn Thanh T cùng tham gia vụ án; nên Hội đồng xét xử cũng cân nhắc về tính chất, mức độ tham gia tội phạm của từng bị cáo theo quy định tại Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) khi quyết định hình phạt cho tương xứng và phù hợp.

Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đối với các bị cáo Nguyễn Nhất P, Trương Ngọc P1, Nguyễn Thanh T và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên đối với các bị cáo Nguyễn Nhất P, Trương Ngọc P1, Nguyễn Thanh T là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, mức án mà Kiểm sát viên đề nghị phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của từng bị cáo; nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Ý kiến của các bị cáo Nguyễn Nhất P, Trương Ngọc P1, Nguyễn Thanh T về việc xin được giảm nhẹ hình phạt là có cơ sở pháp luật, như phân tích nêu trên của Hội đồng xét xử; nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự:

- Đối với bị hại Trương Quốc T3: Phía bị hại T3 có yêu cầu các bị cáo liên đới bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, với số tiền là 411.000.000 đồng. Các bị cáo Nguyễn Nhất P, Trương Ngọc P1, Nguyễn Thanh T đồng ý cùng chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại cho bị hại Trương Quốc T3 (do sức khỏe bị xâm phạm), với số tiền là 411.000.000 đồng và theo tỉ lệ chia đều (03 bị cáo cùng chịu), mỗi bị cáo là 137.000.000 đồng (411.000.000 đồng : 3), nhưng xin được bồi thường nhiều lần sau khi chấp hành án trở về và các bị cáo không có tranh chấp với các đồng phạm khác còn lại trong vụ án về số tiền mà các bị cáo phải bồi thường cho hại T3. Riêng bị cáo Nguyễn Nhất P đã tác động đến gia đình thực hiện bồi thường trước một phần thiệt hại cho bị hại T3, với số tiền là 30.000.000 đồng để nhằm khắc phục trước một phần hậu quả của vụ án do bị cáo và các đồng phạm đã gây ra (đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh) và bị cáo P xin được trừ số tiền này trong số tiền mà bị cáo phải thực hiện bồi thường cho bị hại T3.

Xét, giữa các bị cáo Nguyễn Nhất P, Trương Ngọc P1, Nguyễn Thanh T và phía bị hại Trương Quốc T3 đã thống nhất về số tiền bồi thường, nhưng không thống nhất được phương thức và thời gian thực hiện bồi thường; nên theo quy định của pháp luật về nguyên tắc bồi thường thiệt hại thì thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời, nếu các bên không có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Vì vậy, các bị cáo Nguyễn Nhất P, Trương Ngọc P1, Nguyễn Thanh T phải có trách nhiệm thực hiện bồi thường một lần số tiền nêu trên cho bị hại Trương Quốc T3, mỗi bị cáo là 137.000.000 đồng, thực hiện việc bồi thường ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền. Riêng bị cáo Nguyễn Nhất P đã được gia đình của bị cáo nộp trước số tiền 30.000.000 đồng, tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Biên lai thu tiền số 0005041, ngày 20/7/2023); nên bị cáo P còn phải tiếp tục thực hiện bồi thường cho bị hại Trương Quốc T3, với số tiền là 107.000.000 đồng.

- Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (ông Huỳnh Trọng L2, bà Lê Thị Diễm H2): Ông L2 và bà H2 không có yêu cầu, nên ghi nhận.

Về vật chứng: Không thu hồi được, nên không có cơ sở để xem xét xử lý.

Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo Nguyễn Nhất P, Trương Ngọc P1, Nguyễn Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với thương tích của bà Lê Thị Diễm H2 và ông Huỳnh Trọng L2: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bà H2 và ông L2 không có yêu cầu giải quyết và từ chối việc giám định thương tích (do thương tích không đáng kể); nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét giải quyết trong vụ án này.

Đối với Nguyễn Quốc D1 và Phạm Nguyễn Hoài Linh (hiện nay đã bỏ trốn), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đã ra Quyết định tách vụ án hình sự, Tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự, Tạm đình chỉ điều tra bị can và đã ra Quyết định truy nã đối với D1, Linh và sẽ xử lý sau, là phù hợp theo quy định của pháp luật. Đối với hành vi của Vy và Cỏn, do không xác định được lai lịch; nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh không có đủ căn cứ pháp luật để xử lý trong cùng vụ án này; đồng thời, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn đang tiếp tục điều tra để làm rõ và sẽ xử lý sau, là phù hợp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm c Khoản 3 Điều 134; điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt: 1/ Bị cáo Nguyễn Nhất P 05 (năm) năm 04 (bốn) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày 22/02/2022.

2/ Bị cáo Trương Ngọc P1 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày 28/3/2023.

- Căn cứ vào điểm c Khoản 3 Điều 134; điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 50; Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt: 3/ Bị cáo Nguyễn Thanh T 05 (năm) năm 02 (hai) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp với hình phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Cướp giật tài sản”, theo Bản án số 85/2023/HS-ST ngày 24/4/2023 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh; buộc bị cáo Nguyễn Thanh T phải chấp hành hình phạt tù chung của cả 02 (hai) Bản án là 08 (tám) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/9/2022.

- Về trách nhiệm dân sự:

+ Đối với bị hại Trương Quốc T3: Căn cứ vào Khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các Điều: 584, 585, 586, 587, 590, 357 và Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 cùng Luật Thi hành án Dân sự;

Buộc các bị cáo: Trương Ngọc P1, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Nhất P; mỗi bị cáo thực hiện bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho ông Trương Quốc T3 (bị hại), với số tiền là 137.000.000 (một trăm ba mươi bảy triệu) đồng; do gia đình của bị cáo Nguyễn Nhất P đã nộp trước số tiền bồi thường là 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Biên lai thu tiền số 0005041, ngày 20/7/2023); nên bị cáo Nguyễn Nhất P còn phải tiếp tục thực hiện bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, cho ông Trương Quốc T3 (bị hại), với số tiền là 107.000.000 (một trăm linh bảy nghìn) đồng.

Thi hành việc bồi thường một lần, ngay sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật, tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

+ Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (ông Huỳnh Trọng L2, bà Lê Thị Diễm H2): Ghi nhận việc ông Huỳnh Trọng L2 và bà Lê Thị Diễm H2 không có yêu cầu bồi thường.

- Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc các bị cáo Trương Ngọc P1, Nguyễn Thanh T; mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm với số tiền là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng và phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 6.850.000 (sáu triệu tám trăm năm mươi nghìn) đồng. Bị cáo Nguyễn Nhất P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm với số tiền là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng và phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 5.350.000 (năm triệu ba trăm năm mươi nghìn) đồng.

Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải bồi thường do sức khỏe bị xâm phạm cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án được được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều: 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

- Các bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, có quyền kháng cáo phần Bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ