- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn T; Lường Văn T - tàng trữ mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Lò Văn T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 109/2023/HS-ST Ngày 07 - 9 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Châm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lường Văn Hưởng
Ông Vừ A Sinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Hồng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng tham gia phiên toà: Bà Đoàn Thị Minh Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 110/2023/HSST ngày 18 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2023, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lò Văn T; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1970, tại: huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên; Nơi ĐKTT và nơi ở trước ngày bị bắt: Bản L, xã ML, huyện MA, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: 05/10; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn T (đã chết) và bà Lò Thị Y (đã chết); có vợ là Lường Thị N và 04 người con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý vi phạm hành chính, đã bị kết án, ngày 14/6/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Ẳng, tỉnh Điện Biên xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ngày 30/11/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Ẳng, tỉnh Điện Biên xử phạt 22 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (02 Bản án này bị cáo đã được xóa án tích).
2. Họ và tên: Lường Văn T; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1989, tại: huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên; Nơi ĐKTT và nơi ở trước ngày bị bắt: Bản N, xã ML, huyện MA, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Văn B và bà Quàng Thị X; có vợ là Bạc Thị T và 03 người con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
Các bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/5/2023 sau đó bị tạm giam cho đến nay, các bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo Lường Văn T: Bà Cao Thị B - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên. (có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn T: Bà Bùi Thuý A - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 07/5/2023, Lò Văn T đi bộ lên xã XD, huyện ĐBĐ để mua ma túy về sử dụng và bán lẻ kiếm lời. Khi đi đến khu vực bản KT, xã XD Lò Văn T gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết, qua trao đổi Lò Văn T được người đó bán cho 03 viên Hồng phiến và một ít Heroine được gói trong mảnh túi nilon màu xanh với giá 250.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Lò Văn T đi bộ về nhà và sử dụng hết 01 viên Hồng phiến. Số còn lại Lò Văn T cất giấu vào túi quần phía sau bên phải đang mặc. Đến khoảng 11 giờ 30 phút ngày 09/5/2023, khi Lò Văn T đang ở nhà một mình thì có Lường Văn T lên nhà hỏi mua ma túy, Lò Văn T đồng ý bán cho Lường Văn T một ít Heroine và 01 viên Hồng phiến với giá 100.000 đồng. Sau khi nhận tiền Lò Văn T đã đưa cho Lường Văn T 01 viên Hồng phiến, còn Heroine Lò Văn T đang định đưa cho Lường Văn T thì thấy tổ công tác lên nhà kiểm tra, sợ bị phát hiện nên Lò Văn T cho toàn bộ số Heroine và 01 viên Hồng phiến cùng mảnh túi nilon màu xanh vào miệng nhai nuốt. Lường Văn T sợ bị phát hiện nên dùng tay phải ném viên Hồng phiến vừa mua được của Lò Văn T xuống nền nhà nhưng bị tổ công tác phát hiện yêu cầu Lường Văn T tự nhặt lên giao nộp. Lò Văn T cũng giao nộp cho công tác số tiền 100.000₫ do vừa bán ma tuý cho Lường Văn T mà có. Tổ công tác mời người chứng kiến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.
Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 09/5/2023 tại Công an huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đã xác định: 01 viên nén màu hồng có khối lượng là 0,1 gam, gửi toàn bộ làm mẫu vật giám định chất ma tuý. Tại bản kết luận giám định số: 756/KL-KTHS ngày 16/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Lò Văn T và Lường Văn T gửi giám định là chất ma túy loại Methamphetamine. Hoàn lại đối tượng giám định 0,05 gam. Tại bản kết luận giám định số: 779/KL-KTHS ngày 17/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: 01 (một) tờ tiền mệnh giá 50.000 đ (năm mươi nghìn đồng); 01 (một) tờ tiền mệnh giá 20.000 đ (hai mươi nghìn đồng); 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000đ (mười nghìn đồng) và 04 (bốn) tờ tiền mệnh giá 5.000 đ (năm nghìn đồng) gửi giám định là tiền thật. Hoàn lại toàn bộ mẫu vật gửi đến giám định.
Tại Bản cáo trạng số: 78/CT-VKSMA ngày 17/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Lò Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Lường Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 02 năm 02 tháng đến 02 năm 04 tháng tù. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Lường Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Lường Văn T từ 01 năm 01 tháng đến 01 năm 03 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,05 gam Methamphetamine (là vật chứng hoàn lại sau giám định); tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 100.000 đồng của Lò Văn T do bị cáo phạm tội mà có. Các bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, Người bào chữa cho các bị cáo hoàn toàn nhất trí với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng và Quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng về việc truy tố và xét xử bị cáo Lò Văn T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; bị cáo Lường Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo Lò Văn T được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51/ Bộ luật hình sự. Áp dụng mức hình phạt dưới mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo Lò Văn T; Áp dụng mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo Lường Văn T. Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Trong phần tranh luận Kiểm sát viên không nhất trí với quan điểm của Người bào chữa về việc áp dụng mức hình phạt dưới mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo Lò Văn T và áp dụng mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo Lường Văn T, vì mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp, đã xem xét toàn diện đến nhân thân, điều kiện hoàn cảnh gia đình và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi của các bị cáo: Ngày 07/5/2023, bị cáo Lò Văn T đã mua Heroine và Methamphetamine mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Ngày 09/5/2023, Lò Văn T đã bán cho Lường Văn T 01 viên Methamphetamine có khối lượng 0,1 gam và Heroine với giá 100.000 đồng (Lò Văn T đã nhận tiền và đưa 01 viên Methamphetamine cho Lường Văn T, còn Heroine chưa kịp đưa thì bị phát hiện). Lường Văn T đã có hành vi cất giấu trái phép 0,1 gam Methamphetamine mục đích để bản thân sử dụng.
Với các hành vi và khối lượng ma tuý bị thu giữ thì: Bị cáo Lò Văn T đã phạm vào tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; Bị cáo Lường Văn T đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng khối lượng 0,1 gam Methamphetamine bị thu giữ.
Toàn bộ hành vi và lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng; các Kết luận giám định; Kết luận điều tra; các bản cung và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như Cáo trạng đã truy tố.
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên truy tố các bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ, động cơ hành vi phạm tội của các bị cáo: Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo thực hiện tội phạm do lỗi cố ý trực tiếp, các bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng cũng như nhận thức được chính sách pháp luật hình sự của nhà nước đối với những hành vi mua bán, tàng trữ,... trái phép chất ma túy nhưng các bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật, cố ý thực hiện hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm những quy định của nhà nước về chế độ quản lý, sử dụng các chất ma túy mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn. Tội phạm mà các bị cáo vi phạm là tội phạm nghiêm trọng, vì vậy hành vi của các bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Nhân thân: Bị cáo Lường Văn T chưa bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Ngày 14/6/2011, bị cáo Lò Văn T bị Tòa án nhân dân huyện Mường Ẳng, tỉnh Điện Biên xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ngày 30/11/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Ẳng, tỉnh Điện Biên xử phạt 22 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, 02 bản án này bị cáo đã được xóa án tích nhưng thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu.
Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Tại giai đoạn điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Lò Văn T có anh trai ruột là ông Lò Xuân Long được Chủ tịch Hội đồng Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhất vì đã có thành tích phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam nên bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt đối với các bị cáo: Sau khi xem xét về hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Hình phạt chính: Cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để các bị cáo có điều kiện cai nghiện đồng thời giáo dục, cải tạo các bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo Lường Văn T; Người bào chữa đề nghị áp dụng mức hình phạt dưới mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo Lò Văn T là phù hợp với tính chất mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo Lò Văn T; Người bào chữa đề nghị áp dụng mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo Lường Văn T là chưa phù hợp với tính chất mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính các bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự nhưng các bị cáo đều là người nghiện ma túy, thu nhập chủ yếu từ làm nông nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản có giá trị. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: 0,05 gam Methamphetamine (là vật chứng hoàn lại sau giám định) là những vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần bị tịch thu tiêu hủy. Số tiền 100.000 đồng do bị cáo Lò Văn T bán ma túy cho bị cáo Lường Văn T là tiền do bị cáo Lò Văn T phạm tội mà có nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho bị cáo Lò Văn T do bị cáo không biết tên tuổi và địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra làm rõ được, vì vậy HĐXX không xem xét.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự nhưng các bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở nơi có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn; bị cáo Thẩm thuộc hộ nghèo và các bị cáo có đơn xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Về các hành vi và Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Ảng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, Kiểm sát viên, Người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên và v Người bào chữa đã thực hiện đều hợp pháp, HĐXX chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lò Văn T;
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lường Văn T.
1. Tuyên bố:
Bị cáo Lò Văn T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
Bị cáo Lường Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Hình phạt:
Xử phạt bị cáo Lò Văn T 02 (hai) năm 01 (một) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 09/5/2023).
Xử phạt bị cáo Lường Văn T 01 (một) năm 01 (một) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 09/5/2023).
3. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 0,05 gam Methamphetamine (là vật chứng hoàn lại sau giám định);
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 100.000 đồng của Lò Văn T do bị cáo phạm tội mà có, gồm 07 tờ tiền: 01 (một) tờ tiền mệnh giá 50.000 đ (năm mươi nghìn đồng); 01 (một) tờ tiền mệnh giá 20.000 đ (hai mươi nghìn đồng); 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000đ (mười nghìn đồng) và 04 (bốn) tờ tiền mệnh giá 5.000 đ (năm nghìn đồng). (Đã thu)
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/8/2023 giữa Công an huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên).
4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Các bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 07/9/2023).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Sở tư pháp tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Mường Ảng; - Công an huyện Mường Ảng; - Nhà tạm giữ Công an huyện Mường Ảng; - Chi cục THADS huyện Mường Ảng; - Các bị cáo; Người bào chữa; - Lưu: Hs, hs THAHS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHÊN TÒA (đã ký) Phạm Thị Châm |