vanban.org

Bản án 109/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 23/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tội danh, hình phạt.

Tuyên bố bị cáo Hà Quang C phạm tội Trộm cắp tài sản. Xử phạt bị cáo Hà Quang C 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 26/8/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Quang C trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tội danh, hình phạt.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỮU LŨNG
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 109/2023/HS-ST
Ngày 23-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Xuân;

2. Bà Vũ Thị Cúc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vy Khánh Ly - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tuyên - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 108/2023/TLST-HS, ngày 03 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Hà Quang C (tên gọi khác: Không có), sinh ngày 01 tháng 9 năm 1988, tại huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Nơi cư trú: Thôn LT, xã AT, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn H (đã chết) và bà Thân Thị T, sinh năm 1969; vợ: Nguyễn Thị P, sinh năm 1988; con: 01 con sinh năm 2010; Tiền án: Không có; Tiền sự: Ngày 13/8/2022, Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản và sử dụng trái phép chất ma túy, tổng số tiền phạt 4.000.000 đồng, chưa chấp hành. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 26/8/2023 đến nay. Có mặt.

- Bị hại: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1982. Địa chỉ: Xóm C, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Hà Văn H, sinh năm 1991. Địa chỉ: Thôn ĐS, xã ĐH, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.

2. Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1988. Địa chỉ: Tổ dân phố Đ3, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hà Quang C là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy và thường đi tìm kiếm tài sản không có người trông coi để trộm cắp lấy tiền tiêu sài, mua ma túy về sử dụng. Hà Quang C đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh Nguyễn Thanh T 02 lần, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Vào khoảng 18 giờ ngày 25/8/2023, Hà Quang C điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 98M5-69** đi đến địa bàn huyện H, tỉnh Lạng Sơn tìm kiếm tài sản để trộm cắp; trên đường đi, đã hỏi mua một người đàn ông không quen biết tại khu vực thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang được 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng và sau đó sử dụng hết.

Khoảng 19 giờ cùng ngày, Hà Quang C đi đến khu vực trước cổng kho KV1 Cục Quân khí, Tổng cục kỹ thuật, BQP thuộc thôn L, xã T, huyện H, tỉnh Lạng Sơn thấy bên phải đường có các tấm cốt pha bằng kim loại của ông Nguyễn Thanh T, không có người trông coi, nên Hà Quang C đã dừng xe mô tô và lấy từ trong cốp xe ra 02 đoạn dây chun, 01 đoạn dây thừng rồi lấy trộm 05 tấm cốt pha buộc lên yên xe mô tô và chở đi tìm chỗ bán. Hà Quang C chở 05 tấm cốt pha đi đến khu vực thôn ĐS, xã ĐH, huyện Y, tỉnh Bắc Giang thì gặp điểm thu mua phế liệu của anh Hà Văn H; Hà Quang C nói là của nhà không dùng nữa nên ông Hà Văn H đồng ý mua với tổng trọng lượng 86 kg và trả đủ 730.000 đồng.

Lần thứ hai: Vào khoảng 19 giờ 10 phút ngày 26/8/2023, Hà Quang C đi đến địa điểm trộm cắp ngày 25/8/2023 tiếp tục lấy 09 tấm cốt pha của ông Nguyễn Thanh T; trong khi đang chuẩn bị chở đi bán thì bị lực lượng Công an huyện Hữu Lũng phát hiện bắt quả tang, thu giữ 09 tấm cốt pha bằng kim loại, 01 xe mô tô Biển kiểm soát 98M5-69**, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, 02 đoạn dây chun, 01 đoạn dây thừng và số tiền 448.000 đồng do Hà Quang C bán cốt pha ngày 25/8/2023 còn thừa sau khi chi tiêu cá nhân hết 282.000 đồng.

Tại phiếu xét nghiệm ngày 27/8/2023 kết quả Hà Quang C dương tính với chất ma túy Heroin.

Tại các bản kết luận định giá tài sản số 47/KL-HĐĐG ngày 31/8/2023 và số 52/KL-HĐĐG ngày 28/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hữu Lũng kết luận: 09 tấm cốt pha bằng kim loại do Hà Quang C trộm cắp ngày 26/8/2023 có tổng trị giá là 4.005.000 đồng; 05 tấm cốt pha bằng kim loại do Hà Quang C trộm cắp ngày 25/8/2023 có tổng trị giá là 2.225.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 108/CT-VKS ngày 02 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Hà Quang C về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố Hà Quang C phạm tội trộm cắp tài sản, xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Không áp dụng hình phạt tiền bổ sung do không có tài sản riêng.

Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý vật chứng đề nghị tịch thu, tiêu hủy 02 sợi dây chun, 01 dây thừng; tịch thu, nộp Ngân sách nhà nước 01 xe mô tô Biển kiểm soát 98M5-69** cùng 01 đăng ký xe mô-tô mang tên Lê Việt H và số tiền 448.000 đồng; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia. Xác nhận cơ quan điều tra đã trả lại 09 tấm cốt pha cho chủ sở hữu; đối với 05 tấm cốt pha do Hà Quang C trộm cắp, mang bán ngày 25/8/2023 và ông Hà Văn H đã bán cho người khác không nhớ ai, nên không thu giữ được.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Thanh T yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 2.625.000 đồng. Ngày 22/10/2023 bị hại đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu nào khác.

Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho hưởng mức hình phạt nhẹ nhất, hưởng sự khoan hồng của pháp luật để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hữu Lũng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng đã thực hiện là hợp pháp. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại đối với quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng.

Về thủ tục tố tụng: Bị hại ông Nguyễn Thanh T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hà Văn H vắng mặt và đều đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; hồ sơ đã có lời khai, lời trình bày, đề nghị của những người vắng mặt được thu thập hợp pháp. Việc xét xử vắng mặt những người trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án; do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người nêu trên theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

Lời khai nhận hành vi của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, đồng thời hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thu thập hợp pháp và đã thẩm tra tại phiên toà. Đảm bảo căn cứ xác định:

Hà Quang C là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy nên thường trộm cắp tài sản để bán lấy tiền mua ma túy về sử dụng. Khoảng 19 giờ ngày 25/8/2023, lợi dụng trời tối và tài sản không có người trông coi; Hà Quang C đã lén lút, lấy được 05 tấm cốt pha bằng kim loại của ông Nguyễn Thanh T rồi buộc lên yên xe mô tô Biển kiểm soát 98M5-69**, sau đó mang đi tiêu thụ được số tiền 730.000 đồng, trị giá tài sản bị chiếm đoạt 2.225.000 đồng. Tiếp theo, vào khoảng 19 giờ 10 phút ngày 26/8/2023, cũng với thủ đoạn, cách thức tương tự, tại địa điểm hôm trước; Hà Quang C tiếp tục lấy trộm được 09 tấm cốt pha bằng kim loại của ông Nguyễn Thanh T, khi đang chuẩn bị chở đi tiêu thụ thì bị phát hiện bắt quả tang, tài sản trị giá 4.005.000 đồng. Tổng giá trị tài sản do Hà Quang C trộm cắp được vào hai ngày là 6.230.000 đồng.

Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có thể chất phát triển bình thường, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhưng không lao động chân chính mà đã thực hiện hành vi, lợi dụng lúc vắng người, sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu, lén lút chiếm đoạt tài sản có tổng giá trị là 6.230.000 đồng với lỗi cố ý trực tiếp, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và sự hoang mang, lo lắng đối với một bộ phận người dân trên địa bàn xảy ra tội phạm.

Đảm bảo căn cứ kết luận Hà Quang C đã phạm tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

…5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.

Để xem xét quyết định hình phạt, ngoài việc đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nêu trên thì cần phải xem xét đến nhân thân và các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ để cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt, cụ thể:

Về nhân thân: Hà Quang C có 01 tiền sự do chưa chấp hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 13/8/2022 về hành vi trộm cắp tài sản và sử dụng trái phép chất ma túy bị. Mặc dù đã bị xử lý hành chính nhưng bị cáo không lấy đó là bài học cho bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản, thể hiện thái độ coi thường pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trong hai ngày liên tiếp, mỗi lần đều cấu thành định lượng tội trộm cắp tài sản nên thuộc trường hợp phạm tội 02 lần theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động nhờ vợ là bà Nguyễn Thị P bồi thường toàn bộ theo yêu cầu của bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Hình phạt chính: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng, tuy có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng lại có một tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự trong khi có nhân thân không tốt, đã từng bị xử lý về cùng hành vi trộm cắp nhưng chưa chấp hành. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù trên mức khởi điểm của khung hình phạt đối với tội danh, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một khoảng thời gian ngắn nhất định, để bị cáo lao động, cải tạo, rèn luyện tu dưỡng bản thân trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Hình phạt bổ sung: Tại Biên bản xác minh ngày 11/9/2023, thể hiện Hà Quang C không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền do không khả thi trong công tác thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bồi thường số tiền 2.625.000 đồng, bao gồm trị giá 05 tấm cốt pha theo kết quả định giá tài sản là 2.225.000 đồng và thiệt hại thực tế do quá trình không được sử dụng tài sản cũ nên phải mua mới 05 tấm cốt pha đã bị chiếm đoạt và bị bán mất không thu giữ được trị giá chênh lệch thêm 400.000 đồng là phù hợp quy định tại các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự. Ngày 22/10/2023 vợ bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền theo yêu cầu của bị hại; tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị P thỏa thuận tự nguyện không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền đã bồi hoàn.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng các điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ các điểm a, b, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu, tiêu hủy 02 sợi dây chun, 01 dây thừng là công cụ bị cáo sử dụng để phạm tội và không còn giá trị sử dụng; tịch thu 01 xe mô tô Biển kiểm soát 98M5-69** cùng 01 đăng ký xe mang tên Lê Việt H là phương tiện sử dụng phạm tội và số tiền 448.000 đồng do phạm tội mà có; trả lại 01 chiếc điện thoại do không liên quan đến hành vi phạm tội. Xác nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hữu Lũng đã trả lại 09 tấm cốt pha bằng kim loại cho chủ sở hữu ông Nguyễn Thanh T trong quá trình điều tra là phù hợp theo quy định của pháp luật.

Con người, sự việc liên quan: Đối với người bán ma túy cho Hà Quang C, do bị cáo không biết rõ lai lịch nên không có cơ sở để cơ quan điều tra xác minh, làm rõ. Đối với ông Hà Văn H là người đã mua 05 tấm cốt pha vào ngày 25/8/2023, do bị cáo nói dối là tài sản của mình không sử dụng nữa nên bán phế liệu; vì vậy ông Hà Văn H không biết đó là tài sản do phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý. Sau khi mua, ông Hà Văn H đã bán cho người khác không nhớ ai, nên không truy tìm được tài sản.

Quan điểm đề nghị luận tội của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với các nhận định nêu trên nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Đề nghị trong lời nói sau cùng của các bị cáo đã được Hội đồng xét xử xem xét trong quá trình nghị án và cân nhắc khi quyết định hình phạt.

Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ các điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, b, c khoản 2, khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tội danh, hình phạt.

Tuyên bố bị cáo Hà Quang C phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Hà Quang C 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 26/8/2023.

2. Nghĩa vụ dân sự.

- Ghi nhận sự thống nhất, thỏa thuận của bị cáo Hà Quang C có nghĩa vụ, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm số tiền 2.225.000 đồng trị giá tài sản bị chiếm đoạt và 400.000 đồng thiệt hại thực tế do ảnh hưởng đến việc sử dụng tài sản, chênh lệch giá trị tài sản mua mới; tổng số tiền 2.625.000đ (hai triệu, sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng) cho bị hại ông Nguyễn Thanh T.

Xác nhận người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị P (là vợ bị cáo) đã thanh toán đủ cho bị hại ông Nguyễn Thanh T theo Giấy biên nhận tiền ngày 22/10/2023.

- Công nhận sự thỏa thuận tại phiên tòa về việc bà Nguyễn Thị P tự nguyện không yêu cầu bị cáo Hà Quang C phải hoàn trả số tiền 2.625.000đ (hai triệu, sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng) đã bồi thường thay cho Hà Quang C.

3. Xử lý vật chứng.

- Tịch thu, hóa giá, nộp Ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu nâu đen, đã qua sử dụng, Biển kiểm soát 98M5-69**, số khung RLCS5C6107Y065870, số máy 5C61065870 cùng 01 (một) Giấy đăng ký xe mô-tô Biển kiểm soát 98M5-69** mang tên Lê Việt H.

- Tịch thu, tiêu hủy:

+ 01(một) sợi dây chun buộc màu đen vuông, kích thước 06 x 0,6 cm, chiều dài 2,35m.

+ 01(một) sợi dây chun buộc màu đen vuông, kích thước 06 x 0,6 cm, chiều dài 3,85m.

+ 01(một) dây thừng màu xanh, chiều dài 3,95m.

(Các vật chứng nêu trên có các đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hữu Lũng và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hữu Lũng ngày 07/11/2023).

- Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước: Số tiền 448.000đ (bốn trăm bốn mươi tám nghìn đồng).

( Số tiền được Công an huyện Hữu Lũng chuyển đến lưu giữ tại Kho bạc Nhà nước huyện Hữu Lũng theo Giấy ủy nhiệm chi lập ngày 06/11/2023).

- Trả lại cho Hà Quang C: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI1 351858833965730, số IMEI2 351858834965739, bên trong điện thoại gắn số Sim 1: 0334.605.557, Sim 2: 0394.918.806.

4. Án phí.

Buộc bị cáo Hà Quang C phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp Ngân sách Nhà nước.

5. Quyền kháng cáo.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ