vanban.org

Bản án 109/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Mỹ L về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn anh Nguyễn Văn T. Về quan hệ hôn nhân: chị Phạm Thị Mỹ L đƣợc ly hôn với anh Nguyễn Văn T (Theo giấy chứng nhận kết hôn số 32, quyển số 01/2007 do Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Y… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Mỹ L- Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số:109/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 16-8-2023
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Phan Thị Hiền. Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Tú Nhi; Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ.

- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Hoài Phƣơng - Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: ông Trần Trọng An - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 296/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 110/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2023, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: chị Phạm Thị Mỹ L, sinh năm 1986; thƣờng trú: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1983; thƣờng trú: số H đƣờng C, khu đô thị T, khu phố N, phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Phạm Thị Mỹ L trình bày:

Chị Phạm Thị Mỹ L và anh Nguyễn Văn T tự nguyện yêu nhau, có tổ chức đám cƣới và đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyên S, tỉnh Phú Yên vào ngày 19/10/ 2007. Hôn nhân là tự nguyện và đƣợc hai bên gia đình chấp nhận.

Sau khi kết hôn vợ chồng, anh chị chung sống tại phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đƣợc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung, vợ chồng thƣờng xuyên cãi nhau. Vợ chồng mâu thuẫn về mặt kinh tế, quan điểm sống và những chuyện tranh cãi thƣờng ngày, anh T thƣờng xuyên đánh đập chị L, thời gian trƣớc thì hằng năm sẽ đánh chị L vài lần, nhƣng gần đây thì tháng nào anh T cũng đánh chị L. Vì cuộc sống hôn nhân ngày càng ngột ngạt, không hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Nay chị L nhận thấy, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống đƣợc nữa nên làm đơn xin ly hôn với anh Nguyễn Văn T .

Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 03 con chung tên Nguyễn Vinh H, sinh ngày 19/02/2015, Nguyễn Quốc A, sinh ngày 04/9/2007 và Nguyễn Phạm Tiến P, sinh ngày 18/9/2020. Sau khi ly hôn, chị L yêu cầu trực tiếp nuôi dƣỡng cháu Nguyễn Phạm Tiến P, không yêu cầu anh Nguyễn Văn T thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con. Anh Nguyễn Văn T nuôi dƣỡng cháu Nguyễn Vinh H, Nguyễn Quốc A, chị L không cấp dƣỡng nuôi con

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 25/7/2023 bị đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: anh T thống nhất lời trình bày của chị L về thời gian kết hôn, điều kiện kết hôn.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc nhƣng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống. Thời gian đầu thì thỉnh thoảng xảy ra cãi vã, 03 năm gần đây thì vợ chồng thƣờng xuyên xảy ra cãi vã. Mặc dù, anh T đã cố gắng hòa giải mâu thuẫn và nỗ lực hàn gắn tình cảm nhƣng không đƣợc. Nay anh T xác đinh tình cảm vợ chồng vẫn còn, vì con cái anh T không đồng ý ly hôn.

Về con chung: vợ chồng có 03 con chung tên Nguyễn Vinh H, sinh ngày 19/02/2015, Nguyễn Quốc A, sinh ngày 04/9/2007 và Nguyễn Phạm Tiến P, sinh ngày 18/9/2020. Trƣờng hợp Tòa án giải quyết mà cho chị L ly hôn thì anh T yêu cầu nuôi dƣỡng 03 con chung, không yêu cầu chị L cấp dƣỡng nuôi con. Hiện nay, hai con lớn đang chung sống cùng với anh T, con chung Nguyễn Phạm Tiến P đang sống cùng chị L ở quê ngoại.

Về tài sản chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nghĩa vụ chung về tài sản: Vợ chồng không nợ ai, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản xác minh nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị L và anh T do Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng tiến hành ngày 14/8/2023, Hội Liên hiệp phụ nữ phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng cung cấp thông tin nhƣ sau: chị Phạm Thị Mỹ L không phải là thành viên hội phụ nữ phƣờng. Trƣớc khi khởi kiện ly hôn tại Toà án, chị L không có yêu cầu địa phƣơng tổ chức hòa giải cơ sở; Hội Liên hiệp phụ nữ phƣờng D cũng không tiếp nhận thông tin cung cấp từ đại diện khu phố cũng nhƣ ngƣời dân phản ánh. Vì vậy, Hội liên hiệp phụ nữ phƣờng không rõ nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng chị L và anh T, đồng thời Hội cũng không tiếp nhận phản ánh từ đại diện khu phố cũng nhƣ ngƣời dân phản ánh về mâu thuẫn giữa hai ngƣời, do đó không biết rõ mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Quá trình tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Vì vậy, Tòa án căn cứ vào Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đƣơng sự là đúng với quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An nhận định:

Về tố tụng: nguyên đơn chị Phạm Thị Mỹ L và bị đơn anh Nguyễn Văn T có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đƣơng sự.

Về quan hệ hôn nhân: chị Phạm Thị Mỹ L và anh Nguyễn Văn T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên vào ngày 19/10/2007 theo giấy chứng nhận kết hôn số 32, quyển số 01/2007 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Quá trình tố tụng, chị L xác định trong cuộc sống, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, mâu thuẫn về kinh tế, quan điểm sống và những chuyện tranh cãi thƣờng ngày, anh T thƣờng xuyên đánh đập chị L, thời gian trƣớc thì hằng năm sẽ đánh vài lần, nhƣng gần đây thì tháng nào anh T cũng đánh chị. Cuộc sống vợ chồng ngày càng ngột ngạt, dẫn đến chị L không còn tình cảm với anh T. Điều này cũng đƣợc cháu Nguyễn Quốc A thừa nhận, bố mẹ thƣờng xuyên xảy ra cãi vã, từ chuyện nhỏ cho đến chuyện lớn, bố mẹ không có tiếng nói chung. Quá trình tố tụng, anh T cũng thừa nhận việc vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, thƣờng xuyên cãi vã, vợ chồng đã cố gắng hàn gắn nhƣng không đƣợc. Anh T không đồng ý ly hôn vì cho rằng vợ chồng còn tình cảm và vì con cái.

Do đó, có cơ sở xác định tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh T mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Chị L yêu cầu ly hôn là có căn cứ chấp nhận, ph hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: quá trình chung sống, anh chị có 03 con chung là cháu Nguyễn Vinh H, sinh ngày 19/02/2015, Nguyễn Quốc A, sinh ngày 04/9/2007 và Nguyễn Phạm Tiến P, sinh ngày 18/9/2020. Chị L yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung Nguyễn Phạm Tiến P, sinh ngày 18/9/2020, anh T nuôi dƣỡng cháu Nguyễn Vinh H, sinh ngày 19/02/2015, Nguyễn Quốc A, sinh ngày 04/9/2007. Anh T yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng 03 con chung. Khi giải quyết việc ly hôn, Hội đồng xét xử cần xem xét đến sự phát triển của con chƣa thành niên để quyết định việc giao con cho cha hay mẹ trực tiếp nuôi dƣỡng. Xét thấy, cháu Nguyễn Vinh H, sinh ngày 19/02/2015, Nguyễn Quốc A, sinh ngày 04/9/2007 đang sống cùng với anh T; cháu Nguyễn Phạm Tiến P, sinh ngày 18/9/2020 đang sống cùng với chị L. Căn cứ vào lời khai của cháu Nguyễn Quốc A và cháu Nguyễn Vinh H, khi bố mẹ ly hôn các cháu mong muốn sống chung cùng với bố. Cháu Nguyễn Phạm Tiến P chƣa đủ 36 tuổi thì theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao cháu P cho chị L trực tiếp nuôi dƣỡng, giao hai cháu Nguyễn Quốc A và cháu Nguyễn Vinh H cho anh T trực tiếp nuôi dƣỡng để đảm bảo sự phát triển bình thƣờng của các cháu.

Về nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con: anh T và chị L đều không yêu cầu cấp dƣỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện của anh T và chị L nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị L và anh T không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

Từ những phân tích trên có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Nguyễn Thị O phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Mỹ L về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn anh Nguyễn Văn T.

Về quan hệ hôn nhân: chị Phạm Thị Mỹ L đƣợc ly hôn với anh Nguyễn Văn T (Theo giấy chứng nhận kết hôn số 32, quyển số 01/2007 do Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên vào ngày 19/10/2007).

Về con chung: anh Nguyễn Văn T giao con chung Nguyễn Phạm Tiến P, sinh ngày 18/9/2020 cho chị Phạm Thị Mỹ L trực tiếp nuôi dƣỡng.

Chị Phạm Thị Mỹ L giao con chung Nguyễn Vinh H, sinh ngày 19/02/2015 và Nguyễn Quốc A, sinh ngày 04/9/2007 cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi dƣỡng.

Ghi nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Văn T và chị Phạm Thị Mỹ L về việc không yêu cầu cấp dƣỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Văn T và chị Phạm Thị Mỹ L có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở ông, bà thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đƣơng sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và việc cấp dƣỡng.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: anh Nguyễn Văn T và chị Phạm Thị Mỹ L không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị Mỹ L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn, đƣợc khấu trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006713 ngày 20/7/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ