vanban.org

Bản án 109/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà Mai Thị Hoài T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Mai Thị Hoài T được ly hôn với ông Lại Văn Hoàng Q. Về con chung: Không có nên Tòa án không đề cập giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Mai Thị Hoài T khởi kiện xin được ly hôn với ông Lại Văn Hoàng Q."
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà Mai Thị Hoài T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 109 /2023/HNGĐ-ST
Ngày 13-7-2023
“V/v: Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Loan

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hữu Long

2. Bà Nguyễn Thị Loan.

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Thuận. Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 7 năm 2023, tại Hội trường xét xử trụ sở Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1129/2022/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2022, về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2023/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 104/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 23 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Mai Thị Hoài T, sinh năm 1993; (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn 8, xã E, huyện E1, tỉnh Đắk Lắk.

- Bị đơn: Ông Lại Văn Hoàng Q, sinh năm 1990; (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số 51/16 N, tổ dân phố 1, phường T1, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn bà Mai Thị Hoài T trình bày có nội dung như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông Lại Văn Hoàng Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường T1, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 25/3/2020. Sau khi về chung sống thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do hai vợ chồng không cùng quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Hiện nay vợ chồng sống ly thân từ tháng 12 năm 2022 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Sau khi sống ly thân thì bà T đi làm ở tỉnh Đồng Nai, còn ông Q vẫn ở thành phố B.

Nguyện vọng của bà T là yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk giải quyết cho Bà T được ly hôn với ông Lại Văn Hoàng Q.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống, vợ chồng không có con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Mặc dù bị đơn ông Lại Văn Hoàng Q đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập đương sự, Thông báo về phiên họp việc kiểm tra giao nộp công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng ông Q vắng mặt, không có lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa.

Tại phiên tòa hôm nay, Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đầy đủ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, xác định đúng thẩm quyền, đúng quan hệ trông chấp, đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã tuân thủ đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn không thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án.

Đề nghị Hội đồng xét xử Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Mai Thị Hoài T.

- Về quan hệ hôn nhân: Giải quyết cho bà Mai Thị Hoài T được ly hôn với ông Lại Văn Hoàng Q.

- Về con chung: Không có nên không đề cập giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

- Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định.

Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân gia đình, bị đơn ông Lại Văn Hoàng Q hiện đang sinh sống tại địa chỉ: Số 51/16 N, tổ dân phố 1, phường T1, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn Bà Mai Thị Hoài T có Đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn ông Lại Văn Hoàng Q mặc dù đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông Q chung sống trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường T1, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 25/03/2020, là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Nguyên nhân mâu thuẫn: Theo Nguyên đơn Bà Mai Thị Hoài T trình bày: do vợ chồng tính tình không hợp, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, không cùng quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Hiện nay vợ chồng sống ly thân từ tháng 12 năm 2022 đến nay, không ai quan tâm đến ai.

Tại biên bản xác minh của Tòa án, chính quyền địa phương cung cấp: Vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn trong gia đình.

Xét mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng giữa Bà T và ông Q đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn, nếu tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân thì không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Bà T là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Không có, nên không đề cập giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bà T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 220, khoản 2 Điều 227, Điều 228; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình.

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà Mai Thị Hoài T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Mai Thị Hoài T được ly hôn với ông Lại Văn Hoàng Q.

2. Về con chung: Không có nên Tòa án không đề cập giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu nên Tòa án không đề cập giải quyết.

4. Về án phí: Bà Mai Thị Hoài T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk theo biên lai thu số AA/2021/0022913 ngày 13/12/2022 (Ông Lại Văn Hoàng Q nộp thay).

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ