vanban.org

Bản án 109/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Lê Thanh G được ly hôn với chị Lâm Thị Đ.

[2]. Về con chung: Giao các cháu Lê Nhựt Q, sinh ngày 03/08/2008, Lê Tấn Q1, sinh ngày 03/08/2008 cho anh Lê Thanh G tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của cháu. Chị Lâm Thị Đ được quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Giang - Đầm"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Lê Thanh G được ly hôn với chị Lâm Thị Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 109/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 31-07-2023

“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bảo

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Mua

2. Bà Nguyễn Thị Sương

- Thư ký phiên tòa: Bà Sơn Thị Chanh Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình tham gia phiên toà: Không.

Trong ngày 31 tháng 07 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 203/2023/TLST-HNGĐ, ngày 25/04/2023 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 19/06/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 81/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 07/07/2023 giữa các đương sự:

- Nguyeân ñôn: Anh Lê Thanh G, sinh năm 1985 (xin vắng)

Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long

- Bò ñôn: Chị Lâm Thị Đ, sinh năm 1991 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện đề ngày 17/04/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Lê Thanh G trình bày:

Vào năm 2010 qua quen biết anh và chị Lâm Thị Đ có tiến tới hôn nhân, có làm lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long ngày 05/04/2010.

Sau khi tổ chức lễ cưới thì vợ chồng sống hạnh phúc khoảng 4 năm, đến cuối năm 2014 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến trong cuộc sống gia đình về vấn đề kinh tế, quan điểm sống của mỗi người khác nhau, ngày càng không có tiếng nói chung, dù cố gắng vun đắp nhưng tình cảm không thể hàn gắn được. Do đó chúng anh sống ly thân từ năm 2014 cho đến nay. Chị Lâm Thị Đ đi làm nhưng không nói anh làm ở đâu, chỉ liên lạc với con anh thôi, không cho anh biết. Nay anh thấy tình cảm vợ chồng không còn, mạnh ai nấy sống, hạnh phúc hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Lâm Thị Đ.

Về con chung: Khi ly hôn anh yêu cầu nuôi 02 con chung là Lê Nhựt Q, sinh ngày 03/08/2008, Lê Tấn Q1, sinh ngày 03/08/2008, không yêu cầu chị Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn chị Lâm Thị Đ vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không trình bày.

- Ngày 19/06/2023, nguyên đơn anh Lê Thanh G có đơn xin vắng mặt, chị có ý kiến trình bày: Anh yêu cầu xin ly hôn với chị Lâm Thị Đ. Về con chung: Khi ly hôn anh yêu cầu nuôi 02 con chung là Lê Nhựt Q, sinh ngày 03/08/2008, Lê Tấn Q1, sinh ngày 03/08/2008, không yêu cầu chị Đ cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài các yêu cầu trên, các đương sự không có yêu cầu nào khác và cũng không có cung cấp tài liệu, chứng cứ mới tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về pháp luật tố tụng:

Nguyên đơn anh Lê Thanh G khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con nên đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về “Ly hôn, nuôi con”; bị đơn chị Lâm Thị Đ cư trú tại xã B, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn chị Lâm Thị Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt, nguyên đơn anh Lê Thanh G có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử thống nhất đưa vụ án ra xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về pháp luật nội dung:

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Thanh G và chị Lâm Thị Đ qua quen biết, rồi đi đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long ngày 05/04/2010, nên được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Theo anh Lê Thanh G trình bày: Sau khi tổ chức lễ cưới thì vợ chồng sống hạnh phúc khoảng 4 năm, đến cuối năm 2014 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến trong cuộc sống gia đình về vấn đề kinh tế, quan điểm sống của mỗi người khác nhau, ngày càng không có tiếng nói chung, dù cố gắng vun đắp nhưng tình cảm không thể hàn gắn được. Do đó chúng anh sống ly thân từ năm 2014 cho đến nay. Chị Lâm Thị Đ đi làm nhưng không nói anh làm ở đâu, chỉ liên lạc với con anh thôi, không cho anh biết. Nay anh thấy tình cảm vợ chồng không còn, mạnh ai nấy sống, hạnh phúc hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Lâm Thị Đ.

Xét thấy, quan hệ hôn nhân của vợ chồng phải được xây dựng trên cơ sở tình cảm tự nguyện, có sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau, vun đắp hạnh phúc, làm tròn quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, xây dựng hạnh phúc gia đình, lo cho con cái phát triển về thể chất và tinh thần. Tuy nhiên hiện tại vợ chồng anh G, chị Đ đã sống ly thân, mạnh ai nấy sống, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, vợ chồng sống ly thân từ năm 2014 cho đến nay, từ đó cho đến nay vợ chồng vẫn không đoàn tụ được. Qua đó cho thấy hôn nhân của của anh G, chị Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh G được ly hôn với chị Đ là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “... Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.

[2]. Về con chung: Anh Lê Thanh G khai có con chung với chị Lầm Thị Đ là Lê Nhựt Q, sinh ngày 03/08/2008, Lê Tấn Q1, sinh ngày 03/08/2008 và yêu cầu được nuôi con.

Xét thấy việc quyết định giao con cho người cha hoặc người mẹ nuôi dưỡng sau khi ly hôn cần phải dựa trên quyền lợi về mọi mặt của người con, về điều kiện trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Hiện tại chị Hồng là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Do đó để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển của cháu, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh G là giao cháu Lê Nhựt Q, sinh ngày 03/08/2008, Lê Tấn Q1, sinh ngày 03/08/2008 cho anh Lê Thanh G tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của cháu là phù hợp với quy định của pháp luật.

Chị Lâm Thị Đ được quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở.

[3]. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Lê Thanh G khai chưa yêu cầu, chị Lâm Thị Đ cũng chưa có văn bản nào trình bày về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Anh Lê Thanh G khai chưa yêu cầu, chị Lâm Thị Đ cũng chưa có văn bản nào trình bày về tài sản chung, nợ chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[5]. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2019;

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số 326, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Lê Thanh G được ly hôn với chị Lâm Thị Đ.

[2]. Về con chung: Giao các cháu Lê Nhựt Q, sinh ngày 03/08/2008, Lê Tấn Q1, sinh ngày 03/08/2008 cho anh Lê Thanh G tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của cháu.

Chị Lâm Thị Đ được quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở.

[3]. Về cấp dưỡng nuôi con: Do chưa có yêu cầu, nên không đặt ra giải quyết.

[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Do chưa có yêu cầu, nên không đặt ra giải quyết.

[5]. Về án phí: Anh Lê Thanh G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn là 300.000đ nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số No 0011428 ngày 25/04/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Anh Lê Thanh G đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[6]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ