vanban.org

Bản án 109/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 08/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

*Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Bích H phạm tội “Trộm cắp tài sản”

*Căn cứ: khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Phạt Huỳnh Bích H 02(hai) năm tù, thời hạn chấp hành được tính từ ngày 28/9/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? *Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Bích H phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

- 1 -
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ LAGI
TỈNH BÌNH THUẬN
Bản án số: 109/2022/HS-ST
Ngày: 08-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI

Thành phần HĐXX sơ thẩm gồm có

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Phú Phước

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Thái và ông Phan Vũ Anh Kiệt

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: ông Võ Chí Công – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã La Gi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Kim Đức - Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự đã thụ lý số 95/2022/TLST-HS ngày 14/11/2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2022/QĐXXST-HS ngày 21/ 11/2022 đối với bị cáo;

Huỳnh Bích H sinh năm 1975 tại Quãng Ngãi, tên gọi khác: Không

Nơi đăng ký HKTT: Tổ 1, ấp B, xã B, thành phố L, tỉnh Đ.

Nghề nghiệp: Thợ hớt tóc;

Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông: Huỳnh Tấn Đ, sinh năm: 1934 và bà Phạm Thị Kiều H, sinh năm 1939

Gia đình có: 05 anh, chị em; bị cáo là con thứ tư.

Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1974(đã ly hôn), con: có 02, con lớn sinh 2004, con nhỏ sinh năm 2008

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Ngày 24/9/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 11/12/2013, Tòa án nhân dân tỉnh bà Rịa

- 2 -

– Vũng tàu xử phúc thẩm bản án trên, tuyên phạt Hợp 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 169/2013/HSPT.

Bị cáo bị bắt ngày 28/9/2022. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ công an thị xã La Gi, có mặt tại tòa.

Người bị hại:

1.Nguyễn Đức H, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện H tỉnh B (Vắng mặt)

2.Ngô Đình H, sinh năm 1987.Nơi cư trú: Khu phố 6, thị trấn T, huyện H, tỉnh B (Vắng mặt)

3.Lê Ngọc T, sinh năm 1989.Nơi cư trú: Thôn 2, xã Tc, huyện H, tỉnh B (Vắng mặt)

4.Nguyễn Thị Ngọc N, sinh năm 1989.Nơi cư trú: Khu phố 11, phường B, thị xã L, tỉnh B (Vắng mặt)

5.Võ Thị Bích T, sinh năm 1994.Nơi cư trú: Thôn 1, xã H, huyện H, tỉnh B (Vắng mặt)

“NỘI DUNG VỤ ÁN:”

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 04 giờ ngày 28/9/2022. Huỳnh Bích H đi bộ vào Bệnh viện Đa khoa khu vực thị xã La Gi thuộc khu phố 6, phường Tân An, thị xã La Gi với mục đích trộm cắp tài sản. Hợp vào phòng số 9 Khoa Nhi lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu OPPO A74 và 01 máy laptop hiệu ASUS của anh Nguyễn Đức H, sang phòng 08 Khoa Nhi lấy 01 điện thoại hiệu Iphon 11 màu vàng của anh Ngô Đình H. Hợp tiếp tục đến phòng số 11 Khoa Nhiễm lấy 01 điện thoại hiệu Samsung Galaxy A52S của anh Lê Ngọc T, sang phòng số 10 Khoa Nhiễm lấy 01 điện thoại Samsung Galaxy A20 của chị Nguyễn Thị Ngọc N và 01 điện thoại OPPO R4 của chị Võ Thị Bích T. Sau khi lấy điện thoại của chị T, H đi ra thì bị chị T phát hiện nên truy hô và cùng anh Đặng Lê Văn T truy đuổi đến đối diện trụ sở Công an phường Tân An thì bắt giữ được Hợp và giao Công an làm việc.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 58/KL-ĐGTS ngày 30/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận:

- 01 điện thoại di động hiệu OPPO A74, 128Gb, màu đen, đã qua sử dụng, còn hoạt động, có giá trị là 2.800.000 đồng

- 3 -

- 01 điện thoại di động hiệu OPPO R4 Pro, 256Gb, màu trắng, đã qua sử dụng, còn hoạt động, có giá trị là 3.500.000 đồng

- 01 điện thoại di động hiệ Samsung Galaxy A52S, màu tím, đã qua sử dụng, còn hoạt động, có giá trị là 3.600.000 đồng

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A20, màu đen, bể kính, đã qua sử dụng, còn hoạt động, có giá trị là 1.200.000 đồng

- 01 điện thoại di động hiệu Iphon 11, 128Gb, màu vàng, đã qua sử dụng, còn hoạt động, có giá trị là 7.000.000 đồng

- 01 Laptop hiệu ASUS X202E, màu đen, xuất xứ Trung Quốc, đã qua sử dụng, còn hoạt động, có giá trị là 1.000.000 đồng

- Tổng giá trị tài sản là 19.100.000 đồng

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thị xã La Gi đã trả lại tài sản nêu trên cho các bị hại, các bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 105/CT-VKS ngày 14/11/2022 của VKSND thị xã La Gi đã truy tố bị cáo Huỳnh Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 BLHS ;

Tại phiên tòa, đại diện VKS giữ quyền công tố luận tội và tranh luận đã phân tích hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Xuất phát từ động cơ tư lợi, khoảng 04 giờ ngày 28/9/2022 bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp 05 điện thoại di động và 01 Laptop có giá trị 19.100.000 đồng. Hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật do đó đại diện VKS thị xã La Gi giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có cha là người có công với Tổ quốc. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.

Trên cơ sở phân tích tính chất hành vi phạm tội của bị cáo , các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, qua đó VKS đề nghị HĐXX:

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Bích H phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Phần dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì về phần dân sự

Vật chứng vụ án: Không có

- 4 -

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận tòan bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của VKS đã truy tố và thống nhất với các điều khoản mà VKS viện dẫn trong cáo trạng.

Phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận, nói lời sau cùng bị cáo xin giảm hình phạt,

“NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:”

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan công an thị xã La Gi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến, hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Huỳnh Bích H là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, tại phiên Tòa, qua tranh tụng, đã thừa nhận: khoảng 04 giờ ngày 28/9/2022 bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp 05 điện thoại di động và 01 Laptop có giá trị 19.100.000 đồng. Xét lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập có tại hồ sơ. Lời khai của bị cáo cũng phù hợp với lời khai người bị hại về thời gian, điạ điểm và loại tài sản bị cáo đã chiếm đoạt và phù hợp với vật chứng thu giữ, vì vậy hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 173 BLHS.

[3] Việc Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi căn cứ vào hành vi trộm cắp tài sản có trị giá 19.100.000 đồng để truy tố bị cáo về tội “ trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 BLHS. Đây là chứng cứ buộc tội đúng người, đúng tội nên HĐXX chấp nhận.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm hại đến quyền sỡ hữu tài sản công dân, thể hiện tính tham lam tư lợi, coi thường pháp luật và tài sản người khác. Hành vi của bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, do đó HĐXX cần xử lý nghiêm.

- 5 -

[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có cha là người có công với Tổ quốc đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS.

[6] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo thực hiện nhiều hành vi trộm cắp tài sản của các bị hại khác nhau và các hành vi đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên”. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.

[7]Về vật chứng vụ án: Cơ quan CSĐT Công an thị xã La Gi đã trả lại cho chủ sở hữu nên HĐXX không xét.

[8] Về phần dân sự: Bị hại không yêu cầu gì về phần dân sự nên HĐXX không xét.

[9] Về án phí, bị cáo phải nộp án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

*Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Bích H phạm tội “Trộm cắp tài sản”

*Căn cứ: khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Phạt Huỳnh Bích H 02(hai) năm tù, thời hạn chấp hành được tính từ ngày 28/9/2022.

*Căn cứ: Khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016,

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST

Án xử công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án hợp lệ tại địa phương.

Cỡ chữ