vanban.org

Bản án 109/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương Tuyên án 30/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Đức P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Đức P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22 tháng 6 năm 2022. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đức P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Đức P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÀU BÀNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 109/2022/HS-ST
Ngày: 30-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA N NH N D N HUYỆN BÀU BÀNG TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đinh Thị Bích Tuyền.

Ông Nguyễn Văn Hoà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Phương, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Thái Hoàng Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 79/2022/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Trần Đức P, sinh năm 1986 tại Thái Bình; nơi cư trú: ấp M, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đức Q (đã chết) và bà Trần Thị V; có vợ là Trần Thị H (đã ly hôn) và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22 tháng 6 năm 2022 cho đến nay, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Phạm Thị Th, sinh năm 1993; hộ khẩu thường trú: thôn E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: phường T1, thị xã C, tỉnh Bình Phước, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ N:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

- Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Trần Đức P là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 14 giờ ngày 21/6/2022, Trần Đức P đến khu vực ngã ba Trừ Văn Thố thuộc xã Trừ Văn Thố, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương và hỏi mua được 01 gói nylon hàn kín chứa ma túy đá với giá là 500.000 đồng của người đàn ông tên Nhỏ (không rõ lai lịch). Sau khi mua được ma túy đá, P mang gói nylon hàn kín chứa ma túy đá vừa mua được về nhà cất giấu. Đến khoảng 03 giờ ngày 22/6/2022, P cầm 01 khẩu trang y tế màu xanh bên trong có 01 gói nylon hàn kín chứa ma túy đá, 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút nhựa, 01 nắp nhựa đục 02 lỗ và 01 hộp quẹt ga cất giấu vào trong cổ tay áo sơ mi bên trái của Trần Đức P đang mặc rồi điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision biển số: 47P1-647.20 đi đến khu vực xã Thành Tâm, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước để sử dụng ma túy cùng với bạn tên Tuấn Anh (không rõ lai lịch). Đến khoảng 03 giờ 25 Pt cùng ngày 22/6/2022, khi P điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision biển số: 47P1-647.20 đi đến đoạn đường Quốc lộ 13 thuộc ấp 1, xã Trừ Văn Thố, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng Công an xã Trừ Văn Thố đang tuần tra phát hiện Trần Đức P có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy nên lực lượng Công an yêu cầu dừng xe kiểm tra hành chính Trần Đức P. Lúc này, Trần Đức P dùng tay trái ném 01 khẩu trang y tế màu xanh bên trong có 01 gói nylon hàn kín chứa chất màu trắng dạng tinh thể, 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút nhựa, 01 nắp nhựa đục 02 lỗ và 01 hộp quẹt ga xuống đường. Trần Đức P khai nhận chất tinh thể màu trắng là ma túy đá, P mua ma túy đá nhằm mục đích để sử dụng nên lực lượng Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Đức P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến gì về hành vi phạm tội của bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Trần Đức P đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Về các vấn đề khác của vụ án:

Vật chứng thu giữ trong vụ án: 01 gói nylon hàn kín chứa chất màu trắng dạng tinh thể; 01 xe mô tô hiệu Honda Vision biển số: 47P1-647.20; 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút nhựa, 01 nắp nhựa đục 02 lỗ, 01 hộp quẹt ga, 01 khẩu trang y tế màu xanh theo Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 22-6-2022.

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả trả lại cho chị Phạm Thị Th: 01 xe mô tô hiệu Honda Vision biển số: 47P1-647.20 có số khung RLHJK0316MY542939, số máy JK03E2449599 theo Biên bản trả lại tài sản ngày 12-8-2022.

Theo Kết luận giám định số 298/KL-KTHS(MT) ngày 29 tháng 6 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy, có khối lượng/ trọng lượng 0,3488g, loại Methamphetamine. Hoàn lại đối tượng giám định: mẫu vật sau giám định được niêm phong, khối lượng/ trọng lượng 0,2726g.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về các vấn đề trên.

- Về trích dẫn cáo trạng của Viện kiểm sát:

Bản Cáo trạng số 79/CT-VKSNDBB ngày 05 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trần Đức P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Về mức hình phạt: áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Đức P mức án: từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.

+ Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: tịch thu tiêu hủy 0,2726g Methamphetamine; 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút nhựa, 01 nắp nhựa đục 02 lỗ, 01 hộp quẹt ga, 01 khẩu trang y tế màu xanh.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến gì về quyết định truy tố, luận tội của Viện kiểm sát.

Bị cáo Trần Đức P trình bày lời sau cùng: bị cáo đã biết hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bàu Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Đức P đã khai nhận: Khoảng 03 giờ ngày 22 tháng 6 năm 2022, tại đoạn đường thuộc ấp 1, xã Trừ Văn Thố, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, bị cáo Trần Đức P đã có hành vi tàng trữ trái phép ma túy có khối lượng 0,3488g loại Methamphetamine để sử dụng thì bị bắt quả tang. Xét hành vi của bị cáo đã vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, nội dung bản Cáo trạng và diễn biến tại phiên tòa. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như cáo trạng truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Về nhận thức, bị cáo biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, là mầm móng phát sinh các tệ nạn xã hội. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến chế độ quản lý chất ma tuý của Nhà nước mà còn ảnh hưởng đến trật tự trị an trên địa bàn huyện Bàu Bàng. Hội đồng xét xử quyết định xử bị cáo một mức án tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời cũng nhằm phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: đối với số ma túy 0,2726g Methamphetamine còn lại sau giám định là vật chứng cấm lưu hành, tàng trữ, đối với 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút nhựa, 01 nắp nhựa đục 02 lỗ, 01 hộp quẹt ga, 01 khẩu trang y tế màu xanh là vật chứng không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Vision biển số: 47P1-647.20, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Th là đúng quy định.

Đối với hành vi của đối tượng bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan Công an huyện Bàu Bàng đang xác định lai lịch, nhân thân tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ vào các Điều 106, Điều 135 và khoản 2 Điều 136, các khoản 1, 2 Điều 260, khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 6, Mục 1, Phần I Danh mục Án phí, lệ phí Tòa án (ban hành kèm theo) của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Trần Đức P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Đức P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22 tháng 6 năm 2022.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 0,2726g Methamphetamine được niêm phong trong 01 bì thư niêm phong ghi số: 298/PC09, có hình dấu đỏ niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương; 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút nhựa, 01 nắp nhựa đục 02 lỗ, 01 hộp quẹt ga, 01 khẩu trang y tế màu xanh.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng ngày 07 tháng 10 năm 2022).

3. Về án phí: bị cáo Trần Đức P phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ