- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 109/2022/HNGĐ-ST Ngày: 14/11/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán –Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Phương
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Bính
2. Ông Đỗ Văn Hòa
-Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Bạch Hoàng Hùng
- Cán bộ Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết: Bà Cao Thị
Hường - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan
Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số
333/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo quyết
định đưa vụ án ra xét xử số 176/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/7/2022, Quyết
định hoãn phiên tòa số 246/2022/QĐST-HNGĐ ngày 15/8/2022, thông báo thời gian
mở phiên tòa số 210/TB-TA ngày 30/8/2022, thông báo thời gian mở phiên tòa
số 210a/TB-TA ngày 12/9/2022 và thông báo thời gian mở phiên tòa số
211/TB-TA ngày 24/10/2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị M , sinh năm 1982 (có mặt)
Nơi cư trú: khu phố 3, phường Phú Tài, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình
Thuận.
2. Bị đơn: Ông Trương H, sinh năm 1966 (vắng mặt)
Nơi cư trú: khu phố 01, phường Phú Trinh, thành phố Phan Thiết, tỉnh
Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà
Lê Thị M trình bày:
Năm 2019, bà Lê Thị M và ông Trương H sống chung với nhau, đăng ký
kết hôn vào năm 2020 tại Ủy ban nhân dân (UBND) phường Phú Tài, thành phố
Phan Thiết. Sau khi về chung sống bà M và ông H cảm thấy không hợp nhau,
thường xuyên cãi vã gia đình không có hạnh phúc. Vì cả hai không có con
chung nên không chịu nhường nhịn nhau, khiến cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn. Từ tháng 12/2020 bà M và ông H không còn chung sống với nhau. Nay bà M nhận thấy tình cảm vợ chồng đã hết nên làm đơn xin ly hôn.
Về con: không có con chung nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa giải quyết.
* Bị đơn ông Trương H vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và
không trình bày ý kiến về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia
phiên tòa phát biểu ý kiến: Đối với Thẩm phán, Thư ký Tòa án từ khi thụ lý đến khi xét xử thực hiện đúng theo thủ tục tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) thể hiện sự vô tư khách quan khi xét xử. Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng. Về nội dung vụ án, Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị M về việc ly hôn ông Trương H. Về con không có. Các đương sự không yêu cầu giải quyết về tài sản nên không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa cũng như căn cứ vào kết quả tranh trụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: bị đơn ông Trương H có nơi cư trú
tại khu phố 01, phường Phú Trinh, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ vào khoản 01 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 01 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, yêu cầu khởi kiện về việc giải quyết ly hôn của bà M thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
Tại phiên tòa, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn ông
Trương H vắng mặt đến lần thứ hai, do đó, HĐXX căn cứ vào điểm b khoản 02 Điều 227, khoản 03 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Xét yêu cầu của nguyên đơn, HĐXX thấy rằng: bà Lê Thị M
và ông Trương H đăng kí kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 102, ngày 26/8/2020 của UBND phường Phú Tài, nên quan hệ hôn nhân của bà M, ông H là hợp pháp. Theo qui định của Luật hôn nhân và gia đình, vợ chồng có nghĩa vụ chung sống với nhau, chăm sóc nhau. Theo lời khai của nguyên đơn, thể hiện vợ chồng bà M, ông H đã có thời gian không chung sống bên nhau. Tòa án đã tạo điều kiện cho các đương sự hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt và bà M không đồng ý hòa giải đoàn tụ. Như vậy mâu thuẫn vợ chồng là có thật và thực tế đời sống hôn nhân của bà M, ông H không còn hạnh phúc. HĐXX nhận thấy tình trạng hôn nhân của các đương sự thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, để đảm bảo quyền lợi và ổn định cuộc sống cho các bên, HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà M. Bà M được ly hôn ông H.
Về con các đương sự khai không có nên không xét.
Về tài sản và nợ: Bà M, ông H không yêu cầu giải quyết nên HĐXX
không xét.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 04 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và
điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Lê Thị M
phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ:
- khoản 01 Điều 28, khoản 01 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4
Điều 147, điểm b khoản 02 Điều 227, khoản 03 Điều 228, Điều 266 Bộ luật tố
tụng Dân sự;
- Điều 51, Điều 56, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
*Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc ly hôn của bà Lê Thị M
như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị M ly hôn ông Trương H
.
Quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thị M và ông Trương H chấm dứt kể từ
ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con: đương sự khai không có con chung.
- Về tài sản chung, nợ: các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Bà Lê Thị M phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm
về việc giải quyết ly hôn. Bà M đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí do Chi cục
Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết thu theo biên lai số 0009660 ngày
04/5/2022 được chuyển sang án phí.
Quyền kháng cáo bản án của các đương sự là 15 ngày, đối với bà Lê Thị
M tính từ ngày tuyên án (14/11/2022), đối với ông Trương H tính từ này nhận
được bản án hoặc niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND Tp. Phan Thiết; - Chi cục THADS Tp.Phan Thiết; - UBND phường Phú Tài; - Cổng TTĐT TAND tối cao; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Lê Phương |