- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Khắc Thụ - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, bị cáo Phạm K T phải nộp 200.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 109/2021/HS-ST Ngày 15-7-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Mão
Ông Vũ Văn Khang
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hà Phương - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Lương Thu Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 106/2021/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2021/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:
Phạm K T, sinh ngày 08 tháng 10 năm 1987 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn Đ X, xã B H, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Khắc Thảo và bà Nguyễn Thị Làn; có vợ là Phan Thị Châm và 02 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Tại Bản án số 154/HSST ngày 30/11/2015, Tòa án nhân dân quận Lê Chân xử phạt 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích); ngày 21/4/2006 Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc (đã được xóa); bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 07/4/2021, tạm giam ngày 13/4/2021; có mặt.
- Bị hại:
+ Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1991; nơi cư trú: Số 80/492 Khúc Thừa Dụ, đường Thiên Lôi, phường Vĩnh Niệm, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
+ Chị Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1982; nơi cư trú: Số 6 dãy 7 gian phường Đồng Quốc Bình, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có công việc ổn định nên Phạm K T nảy sinh ý định điều khiển xe máy Wave BKS: 16L7 – 4421 màu vàng một mình đi đến địa bàn phường Đồng Quốc Bình, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xem ai sơ hở thì trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài. Cụ thể, từ tháng 3/2021 đến đầu tháng 4/2021, Thụ đã nhiều lần trộm cắp các tài sản gồm:
Vụ thứ nhất: Khoảng 9 giờ ngày 23/3/2021, Phạm K T điều khiển xe máy Honda Wave màu vàng, BKS: 16L7 – 4421 đến khu tập thể dãy 7 gian tại phường Đồng Quốc Bình, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng thấy 01 con chó Poodle màu nâu vàng của chị Nguyễn Thị Thanh T (sinh năm 1982, trú tại: Dãy 7 gian, phường Đồng Quốc Bình, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng) ở ngoài đường không có ai trông coi, Thụ nảy sinh ý định bắt trộm con chó trên. Thụ đi lại gần bắt con chó rồi để vào võng xe máy của mình sau đó điều khiển xe mang con chó đến khu vực Chợ Hàng, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng bán cho anh Bùi Anh Dũng (sinh năm: 1978, trú tại: Số 448 đường Chợ Hàng, phường Dư Hàng Kênh, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng) với giá 900.000 đồng. Sau khi bị phát hiện mất chó, chị T đã đi tìm kiếm. Ngày 27/3/2021, chị T đến cửa hàng của anh Dũng và nhận ra con chó Poodle của mình nên đã mua lại với giá 2.000.000đồng. Ngày 06/4/2021, chị T đến cơ quan công an trình báo đồng thời giao nộp 01 con chó Poodle màu nâu vàng nặng 3,2 kg để cơ quan điều tra tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật.
Vụ thứ hai: Khoảng 9h ngày 02/4/2021, Phạm K T tiếp tục điều khiển xe máy Honda Wave màu vàng, BKS: 16L7 – 4421 một mình đến khu tập thể D 39 phường Đồng Quốc Bình, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Thụ quan sát nhà số 1B D39 Đồng Quốc Bình, Ngô Quyền, Hải Phòng thấy cửa nhà mở, trong nhà có một người phụ nữ là chị Nguyễn Thị Q (sinh năm 1991, trú tại: 80/492 đường Khúc Thừa Dụ, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng) đang trùm chăn ngủ, có 01 điện thoại Iphone 11 pro max màu xanh đang sạc ở cuối giường. Thụ đi vào trong nhà, dùng tay cầm chiếc điện thoại trên rồi rút dây sạc điện thoại, đút điện thoại vào túi quần phía trước bên phải sau đó điều khiển xe đến khu vực cầu vượt Lạch Tray bán chiếc điện thoại trên cho một người đàn ông không quen biết với giá 3.600.000 đồng. Khoảng 10 giờ cùng ngày, chị Q thức dậy thì phát hiện bị mất điện thoại nên đã đến cơ quan công an trình báo.
Vật chứng của vụ án: 01 con chó Poodle màu nâu vàng nặng 3,2 kg đã được thu hồi, trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Thị Thanh T; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro max màu xanh dung lượng 256 GB hiện chưa thu hồi được; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu vàng , BKS: 16L7 – 4421 là tài sản do vợ Phạm K T là chị Phan Thị Châm (sinh năm: 1984, trú tại: 22/212 đường Miếu Hai Xã, phường Dư Hàng Kênh, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng) mua năm 2007 để sử dụng chung trong sinh hoạt gia đình, chị Châm không biết việc Thụ dùng xe này đi trộm cắp, nên Cơ quan điều tra đã trả xe cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Phan Thị Châm.
Kết luận định giá tài sản số 22/KL-HĐ ngày 07/4/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng kết luận 01 con chó Poodle màu nâu vàng nặng 3,2 kg đến thời điểm bị xâm hại, tài sản trên trị giá 2.700.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 24/KL-HĐ ngày 12/4/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng kết luận 01 chiếc điện thoại Iphone 11 pro max màu xanh dung lượng 256 GB, tại thời điểm bị xâm hại, tài sản trên trị giá 18.000.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Nguyễn Thị Thanh T đã nhận lại tài sản và được bồi thường toàn bộ thiệt hại, không có yêu cầu gì khác và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Phạm K T. Bị hại chị Nguyễn Thị Q cũng đã được bồi thường toàn bộ thiệt hại, không có yêu cầu gì khác và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho Phạm K T.
Tại bản Cáo trạng số 105/CT-VKS ngày 19/6/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Phạm K T về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm K T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên và xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm K T mức án từ 24 đến 30 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản".
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản và thu nhập không ổn định nên không buộc bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Về việc bồi thường thiệt hại: Các bị hại đã được bồi thường và không có yêu cầu bồi thường khoản nào khác nên không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Tài sản đã được trả lại các bị hại nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:
Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa, lời khai của những người làm chứng có trong hồ sơ vụ án và vật chứng thu giữ có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Phạm K T lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, đã thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản vào các ngày 23/3/2021 và ngày 02/4/2021, tại địa bàn phường Đồng Quốc Bình, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Bị cáo đã 02 lần có hành vi lợi dụng sơ hở của chị Nguyễn Thị Thanh T và chị Nguyễn Thị Q, lén lút chiếm đoạt 01 con chó Poodle màu nâu vàng trị giá 2.700.000 đồng và 01 điện thoại Iphone 11 Pro max màu xanh dung lượng 256 GB trị giá 18.000.000 đồng theo Kết luận định giá tài sản số 22/KL-HĐ ngày 07/4/2021 và Kết luận định giá tài sản số 24/KL-HĐ ngày 12/4/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Tổng giá trị tài sản Thụ chiếm đoạt là 20.700.000 đồng. Hành vi của bị cáo Phạm K T đã đủ yếu tố cầu thành tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Việc truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đối với bị cáo Phạm K T về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân mà còn xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trị an xã hội. Vì vậy, cần thiết bắt bị cáo cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục.
- Về tình tiết tăng nặng:
Bị cáo có hai lần chiếm đoạt tài sản của các bị hại vào ngày 23/3/2021 và ngày 02/4/2021. Vì vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự”Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả trả lại tài sản cho bị hại; các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại chị Nguyễn Thị Q, chị Nguyễn Thị Thanh T không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo không có tài sản và thu nhập không ổn định nên không buộc bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
- Về vật chứng của vụ án: Tài sản đã được trả lại và bồi thường cho bị hại nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14; bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
- Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong vụ án này, anh Bùi Anh Dũng mua 01 con chó Poodle nhưng không biết đây là tài sản do Thụ trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý. Người đàn ông mua điện thoại Iphone 11 Pro max của Thụ tại khu vực cầu vượt Lạch Tray, hiện không rõ lai lịch địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xử lý.
- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Việc khởi tố, điều tra, truy tố và ban hành quyết định khởi tố, truy tố; áp dụng biện pháp ngăn chặn; tống đạt các văn bản tố tụng; lấy lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác; thời hạn điều tra, truy tố trong tố tụng hình sự đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 333; khoản 1 Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử phạt Phạm K T 18 (mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07 tháng 4 năm 2021.
- Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, bị cáo Phạm K T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Bị cáo Phạm K T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại chị Nguyễn Thị Q, Nguyễn Thị Thanh T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - VKSND quận Ngô Quyền; - VKSND thành phố Hải Phòng; - CQĐT Công an quận Ngô Quyền; - Cơ quan THA Hình sự Công an quận Ngô Quyền; - Chi cục THADS quận Ngô Quyền; - Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng; - TAND thành phố Hải Phòng; - PV06 Công an thành phố Hải Phòng; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thu Phương |