- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Long D phạm tội “Cướp giật tài sản” - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU TỈNH ĐỒNG NAI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:109/2021/HS-ST Ngày 27-10-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU - TỈNH ĐỒNG NAI
-Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Đại.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Bình.
Ông Lê Văn Mỳ
-Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thanh Hải- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu.
-Đại diện VKSND huyện Vinh Cửu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Bắc - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 105/2021/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:113/2021/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 445/2021/HSST-QĐ ngày 22 tháng 9 năm 2021 và thông báo mở lại phiên tòa số 502/2021/TB-TA ngày 14 tháng 10 năm 2021, đối với bị cáo:
Nguyễn Long D, Tên gọi khác: D Lý; sinh năm 2000 tại: tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: Khu phố 6, phường T, thành phố B, tỉnh Đ; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Chí D, sinh năm 1973 và bà Phạm Thị Kim L, sinh năm 1975; Bị cáo chưa có vợ con;
Tiền án: Ngày 14/02/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 02 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 22/10/2019.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 29/5/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 25/5/2018 (Thời điểm phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi).
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 06/3/2021 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam Công an huyện Vĩnh Cửu. Bị cáo “Có mặt”.
- Người bị hại: Chị Lê Nguyễn Thảo T, sinh năm 2000; Địa chỉ: Khu phố 4, phường T, Thành phố B, tỉnh Đ. “Vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Long D là đối tượng nghiện chơi game nhưng không có việc làm và thu nhập ổn định. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 06/3/2021, D điều khiển xe mô tô hiệu NAGASEI biển số 48F5-5602 lưu thông trên đường ĐT 768 hướng xã Thiện Tân đi xã Tân An mục đích tìm ai sơ hở trong quản lý tài sản thì chiếm đoạt. Đến đoạn đường thuộc ấp 1, xã T, huyện V, D phát hiện chị Lê Nguyễn Thảo T, sinh năm 2000 ngụ khu phố 4, phường T, thành phố B, tỉnh Đ điều khiển xe mô tô biển số 60C1-71885 lưu thông chiều ngược lại, ở móc khóa có treo 01 ví màu đen. D điều khiển xe quay lại tăng tốc đuổi theo tiếp cận bên phải xe mô tô chị T nhanh chóng dùng tay trái giật đứt móc khóa chiếm đoạt 01 ví màu đen bên trong có số tiền 36.000 đồng và 02 thẻ ATM, sau đó bỏ chạy về hướng xã T, huyện V. Chị T tri hô cùng anh Cao Trung C, sinh năm 1992 ngụ ấp Vàm, xã T, huyện V đuổi theo D. Đến dốc ông Hoàng đường Đoàn Văn Cừ thuộc ấp Vàm, xã Thiện Tân, anh Chánh đuổi kịp bắt giữ D. Công an xã Thiện Tân, huyện Vĩnh Cửu tiếp nhận tin báo đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu giải quyết theo thẩm quyền.
Tang vật, tài sản tạm giữ: 01 ví hình tròn bên trong có 36.000 đồng và 02 thẻ ATM (01 thẻ ATM Sacombank, 01 thẻ ATM Vietcombank mang tên Nguyễn Thu Thảo); 01 xe mô tô biển số 48F5-5902.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 34/KL-ĐGTS ngày 01/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Vĩnh Cửu kết luận: 01 cái ví hình tròn màu đen bằng vải, kích thước 06cm x 08cm trị giá 100.000 đồng. Tổng trị giá tài sản D chiếm đoạt của chị T là 136.000 đồng. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại không có ý kiến và khiếu nại gì về kết luận của hội đồng định giá nêu trên.
Trách nhiệm dân sự: Chị Lê Nguyễn Thảo T đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo Nguyễn Long D bồi thường thiệt hại.
Bản cáo trạng số: 102/CT-VKS-HS ngày 08/7/2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu đã truy tố bị cáo Nguyễn Long D về tội: “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Long D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo đúng như nội dung được tóm tắt ở phần trên.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Long D phạm tội “Cướp giật tài sản”. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt Nguyễn Long D từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
+ Trách nhiệm dân sự: Chị Lê Nguyễn Thảo T đã nhận lại tài sản không yêu cầu Nguyễn Long D bồi thường thiệt hại nên không xem xét.
+ Về xử lý vật chứng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu giao trả chị Lê Nguyễn Thảo T 01 ví màu đen, số tiền 36.000 đồng, 01 thẻ ATM Sacombank, 01 thẻ ATM Vietcombank mang tên Nguyễn Thu Thảo.
Xe mô tô biển số 48F5-5902 đứng tên ông Nguyễn Bá N, sinh năm 1969 ngụ thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đ. Ông N đã bán xe mô tô cho người thanh niên không rõ họ, tên địa chỉ nhưng không làm thủ tục sang tên. Năm 2016, D mua lại xe mô tô biển số 48F5-5902 của người tên Huy không rõ họ, địa chỉ và không có giấy đăng ký, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển Công an huyện Vĩnh Cửu giải quyết theo thẩm quyền
+ Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng, bị cáo ăn năn hối hận về hành vi mà bị cáo đã thực hiện, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng hình sự:
Các quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, hành vi tố tụng của Điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án, quyết định tố tụng của Viện kiểm sát và hành vi tố tụng của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố là đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Người bị hại đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Trong giai đoạn điều tra đã có lời khai. Việc vắng mặt tại phiên tòa hôm nay không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về căn cứ kết tội bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Long D đã khai nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập có tại hồ sơ vụ án, xét có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 06/3/2021, tại đường ĐT 768 thuộc ấp 1, xã T, huyện V, tỉnh Đ, Nguyễn Long D điều khiển xe mô tô biển số 48F5-5902 áp sát xe mô tô biển số 60C1-71885 do chị Lê Nguyễn Thảo T điều khiển lưu thông cùng chiều phía trước cướp giật 01 ví màu đen bên trong có 36.000 đồng và 02 thẻ ATM mang tên Nguyễn Thu Thảo. Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 136.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Long D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tính chất, mức độ phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, gây mất an ninh, trật tự trị an địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành, đủ khả năng nhận biết được hành vi cướp giật tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích nay bị cáo tiếp tục có hành vi phạm tội nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Long D trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 ví màu đen, số tiền 36.000 đồng, 01 thẻ ATM Sacombank, 01 thẻ ATM Vietcombank mang tên Nguyễn Thu T là tài sản của chị Lê Nguyễn Thảo T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu giao trả chị Lê Nguyễn Thảo T là có cơ sở nên không xem xét.
Đối với xe mô tô biển số 48F5-5902 đứng tên ông Nguyễn Bá N, sinh năm 1969 ngụ thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đ. Ông N đã bán xe mô tô cho người thanh niên không rõ họ, tên địa chỉ nhưng không làm thủ tục sang tên. Năm 2016, D mua lại xe mô tô biển số 48F5-5902 của người tên H không rõ họ, địa chỉ và không có giấy đăng ký, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển Công an huyện Vĩnh Cửu giải quyết theo thẩm quyền.
Về án phí: Bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Về đề nghị của Viện kiểm sát: Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xử lý đối với hành vi phạm tội của bị cáo về tội danh; điều khoản; về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; về mức hình phạt; về phần dân sự; xử lý vật chứng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Long D phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Long D 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/3/2021.
Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Long D phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn trên tính từ ngày bản án được niêm yết, tống D hợp lệ theo luật định.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - VKS ND huyện Vĩnh Cửu; - VKS ND tỉnh ĐN; - Công an huyện Vĩnh Cửu; - TAND tỉnh Đồng Nai; - THA.huyện Vĩnh Cửu; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Đại |