vanban.org

Bản án 109/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 15/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 58 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[2] Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thành H và Nguyễn Thanh Q đều phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. [3] Xử phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành H cùng Nguyễn Thanh Q - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 58 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật tố t ng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HỆN TP
TỈNH BT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 109/2021/HS-ST
Ngày: 15/9/2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HỆN TP TỈNH B NH THU N

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bích Thị Kim Pháp

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Thái Thị Dung

2. Ông Nguyễn Hữu Đệ

- Thư ký phiên tòa: Ông Văn Hồng Lễ, Thư ký Tòa án Hện TP.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện TP tham gia phiên tòa: Ông Trần Hải Điền - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 9 năm 2021 tại tr s Tòa án nhân dân Hện TP xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự sơ thẩm th lý số: 91/2021/HSST, ngày 19/8/2021 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 100/2021/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2021, đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Nguyễn Thành H; sinh năm 1997; Giới tính: Nam; tại BT; Nơi ĐKNKTT và chỗ : khu phố Minh Tân 2, thị trấn PRC, Hện TP, tỉnh BT; Nghề nghiệp: thợ sơn nước; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Q tịch: Việt nam; con ông Nguyễn Thái Thành Chung, sinh năm 1969 và bà Huỳnh Thị Hoa, sinh năm 1972; Vợ, con: chưa có.

Tiền sự: 01 tiền sự. Ngày 05.7.2019 bị Chủ tịch UBND thị trấn PRC áp d ng biện pháp giáo d c tại xã, phường, thị trấn trong thời gian 03 tháng về hành vi “Sử d ng trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong quyết định áp d ng biện pháp giáo d c tại xã, phường, thị trấn ngày 05.10.2019.

Tiền án: 02 tiền án

Tại bản án số: 125/2016/HSST ngày 16.12.2016 của Tòa án nhân dân Hện TP, tỉnh BT tuyên xử phạt Nguyễn Thành H 01 năm 06 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 20.01.2018 (chưa được xóa án tích).

Tại bản án số: 102/2019/HSST ngày 31.10.2019 của Tòa án nhân dân Hện TP, tỉnh BT tuyên xử phạt Nguyễn Thành H 18 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 22.10.2020 (chưa được xóa án tích).

Bị can bị áp d ng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại khu phố Minh Tân 2, thị trấn PRC, Hện TP, tỉnh BT (có mặt tại phiên tòa).

2/ Họ và tên: Nguyễn Thanh Q, sinh năm 1994; Giới tính: Nam; Nơi sinh: BT; Nơi ĐKNKTT và chỗ : khu phố Minh Tân 1, thị trấn PRC, Hện TP, tỉnh BT; Nghề nghiệp: làm biển; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Q tịch: Việt nam; con ông Nguyễn Hữu Lập, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị Thu Hoa sinh năm 1967; Vợ: Cao Thị Trường Ngân (đã chết); con: có 01 người, sinh năm 2014.

Tiền sự: không

Tiền án: 01 tiền án.

Tại bản án số 142/2015/HSST ngày 28.12.2015 của Tòa án nhân dân Hện TP, tỉnh BT tuyên xử phạt Nguyễn Thanh Q 07 năm tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 28.4.2020 (chưa được xóa án tích)

Bị cáo bị áp d ng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại khu phố Minh Tân 2, thị trấn PRC, Hện TP, tỉnh BT (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử d ng ma túy, khoảng 08 giờ 00 phút ngày 27.5.2021, Nguyễn Thành H rủ Q cùng mua ma túy sử d ng, Q đồng ý. H và Q mỗi người góp vào 50.000 đồng được tổng số tiền 100.000 đồng. Q sử d ng xe mô tô của H ch H đi đến khu vực chợ Xéo thị trấn PRC, Hện TP, tỉnh BT tìm gặp một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch mua 01 tép HeroinE với giá 100.000 đồng. Đến khoảng 09 giờ 00 phút ngày 27.5.2021, H và Q cùng nhau mang ma túy về bãi đất trống thuộc khu phố Hải Tân 1, thị trấn PRC, Hện TP đổ ra để sử d ng được một ít thì bị tổ công tác Công an thị trấn PRC phát hiện bắt giữ. Thu giữ tại vị trí H và Q đang ngồi 01 hộp nhựa hình chữ nhật màu trắng, kích thước 08cm x 11cm x 4cm, trên mặt hộp có chứa chất rắn dạng nén màu trắng, để đảm bảo công tác giám định Công an thị trấn PRC đã tiến hành thu giữ chất rắn dạng nén màu trắng trên mặt hộp hình chử nhật bỏ vào 01 tờ giấy bạc được gấp thành hình chữ nhật kích thước 01cm x 02cm, thu giữ bên trong hộp 01 dao lam, 02 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 1000 đồng và 200 đồng được cuộn tròn thành dạng ống.

Tại bản kết luận giám định số: 657/KLGĐ-PC09 ngày 03.6.2021của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh BT, kết luận:

- Mẫu M gửi đến giám định có khối lượng 0,0138 gam là HeroinE.

Về tang vật chứng: Đã cHển vào kho vật chứng của Chi c c thi hành án dân sự Hện TP toàn bộ mẫu vật được hoàn lại sau giám định gồm: 01 tờ giấy bạc được gấp hình chữ nhật, kích thước khoảng 01cm x 02cm và 0,0048 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 657; 01 hộp nhựa hình chữ nhật màu trắng, kích thước 08cm x 11cm x 4cm, thu giữ bên trong hộp 01 dao lam, 02 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 1000 đồng và 200 đồng được cuộn tròn thành dạng ống.

i hi n a ơ h :

kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện TP: Vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố theo cáo trạng số: 113/CT-VKS-TP ngày 19/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân Hện TP.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thành H và Nguyễn Thanh Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 58 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành H mức án từ 15 (Mười lăm) tháng đến 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 58 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh Q mức án từ 12 (Mười hai) đến 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

Về phần xử lý tang vật chứng: Áp d ng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 tờ giấy bạc được gấp hình chữ nhật, kích thước khoảng 01cm x 02cm và 0,0048 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 657.

+ 01 hộp nhựa hình chữ nhật màu trắng, kích thước 08cm x 11cm x 4cm, thu giữ bên trong hộp 01 dao lam.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 02 tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 1000 đồng và 200 đồng được cuộn tròn hình tr .

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/8/2021 giữa Cơ quan CSĐT Công an Hện TP và Chi c c thi hành án dân sự Hện TP).

Đối với người đàn ông chợ Xéo thị trấn PRC, Hện TP, tỉnh BT đã bán Heroin cho các bị cáo do chưa rõ lai lịch nên sẽ tiếp t c xác minh làm rõ, xử lý sau.

Các bị cáo không tranh luận và đồng ý quan điểm truy tố của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện TP.

Các bị cáo không nói lời sau cùng. Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ s xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, bị cáo.

NH N ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, trình tự thủ t c tố t ng c ng như các quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân Hện TP: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c theo quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra c ng như tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ t c tố t ng c ng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó các hành vi, trình tự thủ t c tố t ng c ng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

[2] Về chứng cứ buộc tội các bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu, các bị cáo khẳng định những lời khai của mình trong quá trình điều tra v án là hoàn toàn tự nguyện, không bị bức cung, ép cung và cáo trạng truy tố là hoàn toàn đúng, không oan. Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết quả giám định chất ma tuý và các chứng cứ khác có trong hồ sơ v án. Như vậy, có đủ cơ s kết luận: Do có nhu cầu sử d ng ma túy, khoảng 08 giờ 00 phút ngày 27.5.2021, bị cáo H rủ bị cáo Q cùng mua ma túy sử d ng, Bị cáo Q đồng ý. Bị cáo H và bị cáo Q mỗi người góp vào 50.000 đồng được tổng số tiền 100.000 đồng. Bị cáo Q sử d ng xe mô tô của bị cáo H ch bị cáo H đi đến khu vực chợ Xéo thị trấn PRC, Hện TP, tỉnh BT tìm gặp một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch mua 01 tép Heroin với giá 100.000 đồng. Đến khoảng 09 giờ 00 phút ngày 27.5.2021, bị cáo H và bị cáo Q cùng nhau mang ma túy về bãi đất trống thuộc khu phố Hải Tân 1, thị trấn PRC, Hện TP đổ ra để sử d ng được một ít thì bị tổ công tác Công an thị trấn PRC phát hiện bắt giữ.

Tại bản Kết luận giám định số: 657/KLGĐ-PC09 ngày 03.6.2021của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh BT, kết luận:

- Mẫu M gửi đến giám định có khối lượng 0,0138 gam là HeroinE không đủ định lượng. Nhưng do bị cáo H đã có 02 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và bị cáo Q đã có 01 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” đều chưa được xóa án tích nên hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Vì vậy, cáo trạng số: 113/CT/VKSTP-HS ngày 19/8/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân Hện TP, truy tố các bị cáo Nguyễn Thành H và Nguyễn Thanh Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 như đã viện dẫn trong cáo trạng là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và mức hình phạt:

Ma tuý, là loại độc dược là chất gây nghiện mà Nhà nước đã nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, chiếm d ng, sử d ng trái phép, đây là một trong những nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội, các căn bệnh thế kỷ, làm lây truyền vi rút gây bệnh khó chữa, ảnh hư ng xấu đến sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc, thế nhưng các bị cáo đã coi thường pháp luật, bất chấp hậu quả, thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử d ng cho bản thân. Hành vi của các bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước. Trong v này có tính đồng phạm nhưng đồng phạm giản đơn nên cần phải xử lý các bị cáo bằng một mức án nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, để có đủ thời gian cải tạo giáo d c các bị cáo tr thành người tốt, công dân có ích cho xã hội đồng thời để bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật hình sự Việt Nam.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra c ng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên cần xem xét chiếu cố khi xử lý, để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần trong mức hình phạt, để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Nhà nước Xã hội chủ nghĩa.

Đối với người đàn ông đã bán Heroin cho các bị cáo do chưa rõ lai lịch nên sẽ tiếp t c xác minh làm rõ, xử lý sau.

[6] Về xử lý tang, vật chứng của v án:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 tờ giấy bạc được gấp hình chữ nhật, kích thước khoảng 01cm x 02cm và 0,0048 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 657.

+ 01 hộp nhựa hình chữ nhật màu trắng, kích thước 08cm x 11cm x 4cm, thu giữ bên trong hộp 01 dao lam.

Là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử d ng.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 02 tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 1000 đồng và 200 đồng được cuộn tròn hình tr . Vì không xác định được chủ s hữu.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/8/2021 giữa Cơ quan CSĐT Công an Hện TP và Chi c c thi hành án dân sự Hện TP).

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố t ng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án của pháp luật.

[7] Đối với quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện TP tại phiên tòa là có căn cứ phù hợp với nhận định như trên, nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 58 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[2] Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thành H và Nguyễn Thanh Q đều phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[3] Xử phạt:

- Bị cáo Nguyễn Thành H mức án 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

- Bị cáo Nguyễn Thanh Q 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

[4] Biện pháp tƣ pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 tờ giấy bạc được gấp hình chữ nhật, kích thước khoảng 01cm x 02cm và 0,0048 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 657.

+ 01 hộp nhựa hình chữ nhật màu trắng, kích thước 08cm x 11cm x 4cm, thu giữ bên trong hộp 01 dao lam.

Là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử d ng.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 02 tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 1000 đồng và 200 đồng được cuộn tròn hình tr . Vì không xác định được chủ s hữu.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/8/2021 giữa Cơ quan CSĐT Công an Hện TP và Chi c c thi hành án dân sự Hện TP).

[5] Về án phí: Áp d ng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố t ng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Q hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Thành H và Nguyễn Thanh Q mỗi người phải nộp 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố t ng hình sự năm 2015.

Án xử công khai có mặt các bị cáo. Báo cho các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ