- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị Quý A - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 330 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 109/2021/HS-PT Ngày: 16-3-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"phúc"thẩm"gồm"có:"
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Văn Hậu.
Các Thẩm phán: 1. Ông Huỳnh Văn Trực;
2. Ông Phan Thanh Nguyễn.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huyền Trân - Thư ký tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: ông Trần Thanh Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2021/TLPT-HS
ngày 15/01/2021 đối với bị cáo Trần Thị Quý A, do có kháng cáo của bị cáo đối
với Bản án hình sự sơ thẩm số 352/2020/HS-ST ngày 09/12/2020 của Tòa án
nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo kháng cáo:
Trần Thị Quý A; sinh năm 1963 tại tỉnh Nam Định; hộ khẩu thường trú
tại 241 Hàn Thuyên, phường Vị Xuyên, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định;
nơi cư trú tại nhà số 36 đường Linh Đông, khu phố 7, phường Linh Đông, thành
phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học
vấn: lớp 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt
Nam; con ông: Trần Doãn Chất và bà Trần Thị Dậu; có chồng và 02 con, lớn
sinh năm 1991, nhỏ sinh năm 1999; tiền án không; tiền sự: Ngày 18/3/2020, bị
Công an phường Linh Đông, quận B xử phạt 150.000 đồng về hành vi buôn bán
trên lòng, lề đường có cấm bán hàng; Ngày 11/5/2020 bị Công an phường Linh
Đông, quận B xử phạt 150.000 đồng về hành vi buôn bán trên lòng, lề đường có
cấm bán hàng; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 07/8/2020, anh Hồ Gia Khánh là dân quân thường trực thuộc Ủy ban nhân dân phường Linh Đông, quận B cùng tổ công tác tuần tra lập lại trật tự lòng lề đường - an toàn giao thông và vệ sinh môi trường trên địa bàn phường Linh Đông. Đến khoảng 08 giờ 24 phút ngày 07/8/2020, khi tổ công tác đến trước nhà số 36, đường Linh Đông, phường Linh Đông thấy Trần Thị Quý A đang bán bánh cuốn, bún riêu trước địa chỉ trên, để 02 bộ bàn ghế và 01 bảng hiệu lấn chiếm vỉa hè, nên bị tổ công tác tạm giữ ghế nhựa, biển hiệu và bàn inox. Mão xin lại đồ bị thu giữ nhưng tổ công tác không đồng ý nên giữa Mão và tổ công tác phát sinh tranh cãi. Lúc này, anh Nguyễn Quang Vinh thuộc tổ công tác lấy điện thoại di động ra ghi lại hiện trường thì Mão dùng lời lẽ thô tục chửi tổ công tác và dùng 01 ca nhựa múc nước sôi trong nồi nước bún tạt 04 lần vào tổ công tác, làm trúng chân trái của anh Khánh, gây bỏng da trên mu bàn chân trái của anh Khánh. Tổ công tác báo đến Công an phường Linh Đông giải quyết vụ việc. Sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường tiền 300.000 đồng tiền thuốc cho anh Khánh.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 352/2020/HS-ST, ngày 09/12/2020 của
Tòa án nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình
sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Trần Thị Quý A 06 (Sáu) tháng tù về tội “Chống người thi hành
công vụ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, tuyên nghĩa vụ
nộp án phí và quyền kháng cáo của bị cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, vào ngày 09/12/2020 bị cáo Trần Thị Quý A
kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo giữ nguyên kháng cáo, đề nghị tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt
cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi tóm tắt
nội dung vụ án, phân tích, đánh giá các chứng cứ mà cơ quan điều tra thu thập, có trong hồ sơ vụ án đã khẳng định: Bị cáo Trần Thị Quý A đã có hành vi chửi bới và dùng nước sôi trong nồi bún tạt vào tổ công tác nhằm để cản trở họ thực hiện việc tạm giữ đồ vật mà bị cáo để lấn chiếm vỉa hè. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý hành chính của nhà nước, đủ yếu tố cấu thành tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Song xét thấy mức án 06 tháng tù mà cấp sơ thẩm áp dụng là không phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo bởi bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như cấp sơ thẩm đã áp dụng. Ngoài ra bị cáo có tình tiết giảm nhẹ “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” qui định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 mà cấp sơ thẩm chưa áp dụng. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thay đổi kháng cáo xin được áp dụng cho bị cáo hình phạt cải tạo
không giam giữ, yêu cầu của bị cáo là phù hợp nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp
nhận kháng cáo của bị cáo, chuyển hình phạt tù sang hình phạt cải tạo không giam
giữ.
Bị cáo không tranh luận gì và trong lời nói sau cùng bị cáođề nghị Hội
đồng xét xử phúc thẩm giảm án cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định, phù hợp với quy
định tại Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, nên được
chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận đã có để bàn ghế, bản hiệu
lấn chiếm vỉa hè, khi anh Hồ Gia Khánh và tổ tuần tra lập lại trật tự lòng lề
đường – an toàn giao thông và vệ sinh môi trường tiến hành thu giữ đồ vật trên
để xử lý thì bị cáo van xin, khi không được tổ công tác đồng ý thì bị cáo đã có
hành vi chửi bới và dùng ca nhựa múc nước sôi trong nồi bún rồi tạt vào những
người đang thi hành công vụ, nhằm làm cho họ không tiến hành thu giữ đồ vật
của bị cáo, hậu quả gây bỏng mu bàn chân trái của anh Hồ Gia Khánh. Do đó,
Bản án sơ thẩm qui kết bị cáo phạm tội “Chống người thi hành công vụ” theo
khoản 1 Điều 330 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là
có căn cứ, đúng tội.
[3] Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn
hối cải, cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được
quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi
bổ sung năm 2017 là có căn cứ đúng luật. Bị cáo mới phạm tội lần đầu và phạm
vào tội ít nghiêm trọng, nhưng cấp sơ thẩm không áp dụng cho bị cáo tình tiết
giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” theo qui định
tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm
2017 là thiếu sót. Do đó cấp phúc thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ này cho bị
cáo.
[4] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Trách nhiệm giữ gìn trật tự lòng lề đường, an toàn giao thông và vệ sinh môi
trường là trách nhiệm chung của mỗi công dân, bị cáo đã không tuân thủ, chấp
hành chủ trương trên của nhà nước mà còn có hành vi chửi và dùng nước sôi tạt
vào đoàn công tác, khi họ thực hiện nhiệm vụ này. Hành vi của bị cáo không
những vi phạm pháp luật mà còn gây phản cảm, bất bình của quần chúng nhân
dân. Đáng lẽ phải giữ nguyên mức án mà cấp sơ thẩm đã tuyên để giáo dục cho
riêng bị cáo và phòng ngừa tội phạm trên lĩnh vực này. Song xét thấy tại giai
đoạn phúc thẩm những người trong tổ công tác đều làm đơn đề nghị Tòa giảm
nhẹ, áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cho bị cáo và bị cáo xuất trình Giấy xác nhận của chính quyền địa phương, xác nhận hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, có chồng tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước, hiện tuổi cao, thường xuyên đau yếu, đây là tình tiết giảm nhẹ qui định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử nhận thấy tính chất của vụ án do bị cáo gây ra ít nghiêm trọng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ mới, do đó chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, chuyển hình phạt tù sang hình phạt cải tạo không giam giữ, tạo điều kiện cho bị cáo vừa tự cải tạo, vừa lao động nuôi sống gia đình và với hình phạt này cũng có thể giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
[5] Về án phí: Do chấp nhận kháng cáo nên bị cáo không phải chịu tiền
án phí hình sự phúc thẩm theo qui định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật
Tố tụng hình sự:
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị Quý A, sửa Bản án hình sự sơ
thẩm số 352/2020/HS-ST, ngày 09/12/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 330; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51;
Điều 36 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Trần Thị Quý A 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ
về tội “Chống người thi hành công vụ”. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày Ủy ban nhân dân phường Linh Đông, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh nhận được quyết định thi hành án hoặc bản sao bản án.
Giao bị cáo Trần Thị Quý A cho Ủy ban nhân dân phường Linh Đông,
thành phố Thủ Đức giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình của bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Linh Đông, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 100
của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Người bị kết án Cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ
quy định tại Luật thi hành án hình sự.
Áp dụng Điều 125 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Hủy bỏ biện
pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo Trần Thị Quý A, nếu bị
cáo Mão không bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” về một tội phạm
khác.
Về án phí: Bị cáo Trần Thị Quý A không phải chịu tiền án phí hình sự phúc
thẩm.
Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo,
kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Đã giải thích chế định án Cải tạo không giam giữ.
Nơi"nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM"
- TAND TC;
(1)
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND Cấp cao tại TP.HCM; (1)
- VKSND cấp cao tại TP.HCM; (1)
- VKSND TP.HCM;
(1)
- VKSND tp Thủ Đức;
(1)
- P.PC53 - CATP;
(1)
- Bị cáo;
(1)
- Trại giam;
(1)
- THA tp Thủ Đức;
(1)
- TAND tp Thủ Đức;
(1)
- UBND nơi BC cư trú;
(1)
- Sở Tư pháp;
(1)
- Lưu, tòa hình sự, hồ sơ (20) (4)
Nguyễn Văn Hậu