vanban.org

Bản án 109/2021/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 03/11/2021 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 03/11/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không ch p nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn là cụ Đồng Thị N; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2020/DS-ST ngày 29/9/2020 của Toà án nhân dân tỉnh H;

Án phí dân sự phúc thẩm: Cụ Đồng Thị N được miễn án phí dân sự phúc thẩm. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất"
  • Tòa quyết gì? Không ch p nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn là cụ Đồng Thị N; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2020/DS-ST ngày 29/9/2020 của Toà án nhân dân tỉnh H;
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 109/2021/DS-PT
Ngày: 03/11/2021
V/v Tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền
sử dụng đất vô hiệu và yêu cầu hủy
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mai.

Các Thẩm phán:

Ông Bùi Xuân Trọng;

Ông V Minh Tu n.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Nhật Phương, Thư ký Tòa án nhân dân c p cao tại Hà Nội.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Bà Phan Diệu Nhân, Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Ngày 03 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân c p cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án Thụ lý số: 309/2020/TLPT-DS ngày 23 tháng 11 năm 2020 về việc “Tranh ch p quyền sử dụng đ t” do Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2020/DS-ST ngày 29/9/2020 của Toà án nhân dân tỉnh H bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 8463/2021/QĐ-PT ngày 12 tháng 10 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Cụ Đồng Thị N, sinh năm 1939.

Địa chỉ: Thôn T, xã N2, huyện N1, tỉnh H, v ng m t.

Người đại diện theo ủy quyền của cụ N: Ông Nguyễn Quốc T1, sinh năm 1956; có m t.

HKTT: xã A, thành phố H, tỉnh H.

Địa chỉ liên hệ: Số 329, đường T2, phường N3, thành phố H, tỉnh H; có m t.

2. Bị đơn: Ông Phan Đình B, sinh năm 1973 và bà Vũ Thị H1, sinh năm 1975; Cùng địa chỉ: Thôn T, xã N2, huyện N1, tỉnh H; đều v ng m t.

Người b o vệ quyền và lợi ch hợp pháp của ông B, bà H1: Bà Nguyễn Thị T3, Luật sư Công ty Luật TNHH T4 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H2; có m t.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ủy ban nhân dân huyện N1, tỉnh H; có đơn đề nghị xét xử v ng m t.

3.2. Ủy ban nhân dân xã N2, huyện N1, tỉnh H; có đơn đề nghị xét xử v ng m t.

3.3. Ông Phan Đình L, sinh năm 1959; v ng m t.

3.4. Ông Phan Đình T1, sinh năm 1963; có m t.

3.5. Bà Phan Thị S, sinh năm 1972; v ng m t.

Đều ở địa chỉ: Thôn T, xã N2, huyện N1, tỉnh H.

3.6. Bà Phan Thị T5, sinh năm 1979; v ng m t.

Địa chỉ: thôn T6, xã N4, huyện N1, tỉnh H.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Phan Đình L, bà Phan Thị S, bà Phan Thị T5: Ông Phan Đình T1, sinh năm 1963; địa chỉ: Thôn T, xã N2, huyện N1, tỉnh H; có m t.

3.7. Bà Phan Thị N5, sinh năm 1966.

Địa chỉ: Thôn T, xã N2, huyện N1, tỉnh H; v ng m t.

Người đại diện theo pháp luật của bà N7: Ông Phan Đình T1, sinh năm 1963; địa chỉ: Thôn T, xã N2, huyện N1, tỉnh H; có m t.

3.8. Ông Phan Đình N6, sinh năm 1967 và bà V Thị H3, sinh năm 1974;

Người đại diện theo ủy quyền của bà Vũ Thị H3: Ông Phan Đình N6; ông N6 có m t, bà H3 v ng m t.

3.9. Ông Phan Đình M, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1974.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị H3: Ông Phan Đình M; ông M2 có m t. Bà H3 v ng m t.

Đều ở địa chỉ: Thôn T, xã N2, huyện N1, tỉnh H.

3.10. Phòng công chứng số 2 tỉnh H;

Địa chỉ: số 12, Đ, phường S1, thành phố C, tỉnh H; v ng m t.

Người kháng cáo: Cụ Đồng Thị N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là cụ Đồng Thị N, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Nguyễn Quốc T1, người b o vệ quyền và lợi ch hợp pháp cho nguyên đơn là bà Nguyễn Thị L1 trình bày:

Cụ Phan Đình T7 (sinh năm 1934, chết năm 2001) và cụ Đồng Thị N là vợ chồng. Hai cụ sinh được 08 người con là Phan Đình L, Phan Đình V (là liệt sỹ, hy sinh năm 1979, chưa có vợ con), Phan Đình T1, Phan Đình N6, Phan Thị N5, Phan Thị S, Phan Đình B, Phan Thị T5. Ngoài ra, cụ N và cụ T7 không có con nuôi, con riêng khác. Bố cụ T7 là cụ Phan Đình H6 chết năm 1982, mẹ cụ T7 là cụ Lê Thị T8 chết năm 1979.

Khi cụ T7 còn sống, cụ N và cụ T7 tạo dựng được diện tích đ t 1.252m2, địa chỉ: thôn T, xã N2, huyện N1, tỉnh H, chưa được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t nhưng đã được thể hiện tại bản đồ 299 của UBND xã N2, huyện N1, tỉnh H. Khoảng N6 1991, hai cụ tách đ t cho con là anh Phan Đình T1 diện tích 240m2 và bán cho anh Phan Đình M1 310m2. Hai diện tích đ t trên đã được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t hợp pháp. Diện tích đ t của hai cụ còn lại là 438m2 tại thửa số 112, tờ bản đồ số 7, được UBND tỉnh H7 (nay là tỉnh H) c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t mang tên cụ Phan Đình T7 vào ngày 26/8/1991, đến ngày 01/11/2001 thì được UBND huyện N1, tỉnh H hợp pháp hóa tại trang 3. Tài sản trên đ t có 01 nhà mái ngói c p 4 năm gian đã c nát.

Ngày 22/5/2001, cụ T7 chết, không để lại di chúc. Ngày 25/12/2009, cụ N và các con gồm ông L, ông T1, bà N7, bà S, ông B, ông N6 đã lập Văn bản từ chối hưởng tài sản thừa kế, Văn bản phân chia tài sản thừa kế đối với phần di sản của cụ T7 để cho cụ N được toàn quyền đứng tên sử dụng. Trong các văn bản này có cả chữ ký của bà T5 nhưng do khi đó bà T5 l y chồng ở H, không có nhà nên bà S đã ký thay. Ngày 07/4/2010, tại trang 4 của Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t mang tên cụ T7 đã ghi chỉnh lý biến động về việc cụ N được nhận thừa kế quyền sử dụng đ t tại thửa 112, tờ bản đồ số 7, diện tích 438m2 (trong đó có 300m2 đ t ở và 138m2 đ t vườn).

Ngày 10/3/2011, cụ N t ng cho ông Phan Đình N6 và bà V Thị H3 200m2 đ t ở nông thôn theo Hợp đồng t ng cho quyền sử dụng đ t có công chứng của Phòng công chứng số 2 tỉnh H. Ngày 05/5/2011, UBND huyện N1 đã c p 02 gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t: gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số BC258196 mang tên cụ Đồng Thị N tại thửa đ t số 112, tờ bản đồ số 7, diện tích 238m2 (trong đó đ t ở 100m2, đ t trồng cây lâu năm 138m2) và gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số BC258174 mang tên ông Phan Đình N6, bà V Thị H3 tại thửa đ t số 827, tờ bản đồ số 7, diện tích 200m2 đ t ở tại nông thôn.

Năm 2016, cụ N tiếp tục đề nghị tách thửa đ t số 112, tờ bản đồ số 7, diện tích 238m2 để t ng cho ông Phan Đình B và bà V Thị H1, đồng thời cụ N đề nghị chuyển mục đích sử dụng đ t 20m2 từ đ t trồng cây lâu năm sang làm đ t ở đối với thửa đ t còn lại của cụ. Hợp đồng t ng cho quyền sử dụng đ t lập ngày 01/4/2016, có chứng thực của UBND xã N2, huyện N1, tỉnh H. Ngày 26/5/2016, UBND huyện N1 đã c p 02 gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t: gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số CC235638 mang tên ông Phan Đình B và bà V Thị H1 tại thửa đ t số 111, tờ bản đồ số 17, diện tích 121,3m2 (trong đó đ t ở 60m2, đ t trồng cây lâu năm 61,3m2) và gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số CC235689 mang tên cụ Đồng Thị N tại thửa đ t số 110, tờ bản đồ số 17, diện tích 123m2 (trong đó đ t ở 60m2, đ t trồng cây lâu năm 63m2).

Ngày 13/11/2017, ông B và bà H1 lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t cho ông Phan Đình M và bà Nguyễn Thị H3, được UBND xã N2 chứng thực hợp đồng theo quy định. Ông M2, bà H3 đã hoàn thiện các thủ tục hành chính để được c p đổi lại gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t. Do cụ N có đơn nộp tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đ t huyện N1 đề nghị thu hồi gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t của ông B và bà H1 nên đến nay ông M2 và bà H3 chưa được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t.

Cụ N có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố Hợp đồng t ng cho quyền sử dụng đ t lập ngày 01/4/2016 giữa cụ N và vợ chồng ông Phan Đình B, bà V Thị H1 (có chứng thực của UBND xã N2, huyện N1, tỉnh H) vô hiệu; hủy gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số CC235638 do UBND huyện N1, tỉnh H c p ngày 26/5/2016 mang tên ông Phan Đình B và bà V Thị H1.

Trong quá trình giải quyết vụ án, cụ N bổ sung yêu cầu khởi kiện, đề nghị tuyên bố Hợp đồng t ng cho quyền sử dụng đ t lập ngày 10/3/2011 giữa cụ N và vợ chồng ông Phan Đình N6, bà V Thị H3 (do Phòng công chứng số 2 tỉnh H công chứng) vô hiệu. Cụ N không đề nghị giải quyết hậu quả của hai hợp đồng vô hiệu.

Căn cứ khởi kiện:

- Bà T5 không ký vào văn bản từ chối nhận tài sản thừa kế và văn bản phân chia tài sản thừa kế nên thủ tục cho cụ N đứng tên toàn bộ thửa đ t là không hợp pháp. Cụ N không có quyền định đoạt t ng cho vợ chồng ông B và vợ chồng ông N6 các diện tích đ t.

- Ông B nói với cụ N ký làm thủ tục để vay vốn ngân hàng cho ông B đi nước ngoài. Do tin tưởng con nên cụ N đã ký các gi y tờ mà cụ N không biết là các gi y gì. Khi gia đình ông M2 sang nhà cụ dỡ ngói nhà, cụ hỏi ông M2 thì mới biết ông B đã bán đ t cho ông M2. Lúc y cụ mới biết ông B đã lừa dối cụ để làm hợp đồng t ng cho quyền sử dụng đ t.

- Việc cụ N lập hợp đồng t ng cho quyền sử dụng đ t cho vợ chồng ông B thì các con của cụ gồm ông T1, ông L, bà N7, bà S, bà T5 không biết.

Về lệ phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản: Cụ N đề nghị chịu toàn bộ lệ phí.

Tại b n tự khai và trong quá trình gi i quyết vụ án, bị đơn là ông Phan Đình B và bà Vũ Thị H1, người b o vệ quyền và lợi ch hợp pháp của ông B và bà H1 là bà Nguyễn Thị T6 trình bày:

Thống nh t với ý kiến của nguyên đơn về quan hệ huyết thống, thời điểm cụ T7 chết. Khi cụ T7 còn sống, cụ T7 và cụ N tạo dựng được diện tích đ t tại thôn T, N2, N1, H, diện tích cụ thể bao nhiêu ông B không nhớ, đ t đã được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t mang tên cụ T7. Tài sản trên đ t có 05 gian nhà mái ngói c p 4.

Ngày 22/5/2001, cụ T7 chết, không để lại di chúc. Khoảng N6 2009, cụ N và các con trong gia đình gồm ông L, ông T1, bà N7, bà S, ông N6, ông B đã lập Văn bản phân chia tài sản thừa kế, Văn bản từ chối hưởng tài sản thừa kế của cụ T7 để cho cụ N được toàn quyền đứng tên sử dụng. Trong văn bản này có cả chữ ký của bà T5 nhưng do khi đó bà T5 làm công ty ở H, không có nhà nên một trong những người anh em trong nhà đã ký thay. Sau đó, bà T5 có biết việc lập văn bản trên vì trước khi làm thủ tục cho cụ N đứng tên toàn bộ thửa đ t thì cụ N và anh em trong gia đình đã họp bàn thống nh t. Ông B không nhớ thời điểm cụ N tách đ t cho vợ chồng ông N6 nhưng tách đ t trước khi cho vợ chồng ông đ t, vợ chồng ông N6 đã được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t.

Đến năm 2016, cụ N làm thủ tục t ng cho vợ chồng ông đ t, hợp đồng t ng cho quyền sử dụng đ t lập ngày 01/4/2016, có chứng thực của UBND xã N2. Ngày 26/5/2016, UBND huyện N1 đã c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số CC235638 mang tên ông Phan Đình B và bà V Thị H1 đối với thửa đ t số 111, tờ bản đồ số 17, diện tích 121,3m2. Trên diện tích đ t có 01 gian nhà c p 4 và ba gian công trình phụ gồm bếp, chuồng lợn, nhà dưới. Năm 2017, vợ chồng ông B đã bán diện tích đ t này cho vợ chồng ông Phan Đình M và bà Nguyễn Thị H3. Thủ tục chuyển nhượng đ t giữa vợ chồng ông B với ông M2, bà H3 được thực hiện đầy đủ theo quy định và đang trong thời gian chờ UBND huyện N1 c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t thì cụ N có đơn yêu cầu dừng lại nên đến nay ông M2, bà H3 chưa được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t.

Ông B không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của cụ N vì cụ N đã t ng cho quyền sử dụng đ t cho vợ chồng ông và vợ chồng ông N6 theo trình tự, thủ tục đúng quy định pháp luật, được UBND huyện N1 c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t. Cụ N là người biết đọc, biết viết và khi làm thủ tục t ng cho đ t cho vợ chồng ông, cụ N đã được cán bộ UBND xã N2 giải thích đầy đủ nên cụ N nh t trí ký tên và điểm chỉ đồng ý vào hợp đồng t ng cho đ t ngày 01/4/2016. M t khác, trong vụ án trước đây, khi bà T5 khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ T7, bà T5 cho rằng không biết việc anh chị em thống nh t để cụ N hưởng toàn bộ di sản thừa kế của cụ T7 là không đúng. Vì bà T5 c ng biết được việc cụ N được đứng tên trên toàn bộ diện tích đ t, sau đó t ng cho đ t cho vợ chồng ông N6 và vợ chồng ông nhưng đều không có ý kiến gì. Trước khi bán đ t cho ông M2 thì ông B đã hỏi các anh chị em trong gia đình có ai mua đ t không, do không ai mua nên ông mới bán đ t cho ông M2. Ông B và bà H1 không đề nghị giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

Ông Phan Đình T1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đồng thời là người đại diện hợp pháp của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Đình L, bà Phan Thị S, bà Phan Thị T5, bà Phan Thị N5; bà Nguyễn Thị Chi là người b o vệ quyền và lợi ch hợp pháp cho bà Phan Thị N5; ông Phan Đình N6 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bà Vũ Thị H3 trình bày: Nh t trí với nội dung trình bày và yêu cầu khởi kiện của cụ N, không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

Ông Phan Đình M là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị H3 trình bày: Vợ chồng ông Phan Đình B và bà V Thị H1 có diện tích 121,3m2 đ t ở giáp đ t nhà ông. Vào khoảng tháng 10/2017, ông B nói với ông là bán thửa đ t nói trên cho vợ chồng ông. Lúc đó, ông nói với vợ chồng ông B là cứ hỏi anh em ruột nhà ông B trước nếu có ai mua thì bán cho anh em của ông B, còn nếu anh em ông B không ai mua thì ông sẽ mua. Khoảng một tháng sau, ông B sang nói với ông là đã hỏi anh em nhưng không ai mua và muốn bán đ t cho ông để l y tiền mua đ t ra chỗ khác ở. Sau khi xem xét, ông th y gi y tờ đ t hợp lệ và thống nh t giá đ t, vợ chồng ông đã mua diện tích đ t này. Hai bên đã làm Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t và đến UBND xã N2, huyện N1 để chứng thực vào ngày 13/11/2017. Sau đó, ông c ng đã nộp thuế đ t đầy đủ để hoàn thiện hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đ t. Toàn bộ hồ sơ được chuyển lên UBND huyện N1 để làm thủ tục c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cho vợ chồng ông. Khi hồ sơ đề nghị c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cho vợ chồng ông đang được xem xét giải quyết thì gia đình cụ N có ý kiến đến UBND huyện N1 về việc tranh ch p với vợ chồng ông B, bà H1 đối với diện tích đ t đã bán cho ông nên việc c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cho vợ chồng ông bị dừng lại. Trường hợp Tòa án tuyên hợp đồng t ng cho quyền sử dụng đ t giữa cụ N và vợ chồng ông B vô hiệu, hủy Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t mang tên ông Phan Đình B, bà V Thị H1 thì vợ chồng ông c ng không đề nghị giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, không yêu cầu giải quyết đối với hợp đồng chuyển nhượng đ t giữa vợ chồng ông B và vợ chồng ông, sau này không thỏa thuận được thì ông sẽ khởi kiện vợ chồng ông B trong vụ án khác.

Phòng công chứng số 2 tỉnh H có quan điểm: Việc công chứng viên chứng nhận hợp đồng t ng cho quyền sử dụng đ t được giao kết giữa cụ Đồng Thị N với ông Phan Đình N6 và bà V Thị H3 theo Hợp đồng t ng cho quyền sử dụng đ t ngày 10/3/2011, số công chứng 388, quyển số 02/TP/CC-SCC/HĐGD đảm bảo đúng quy định pháp luật. Căn cứ: sau khi tiếp nhận hồ sơ, công chứng viên đã tiến hành kiểm tra, hướng dẫn cụ N, ông N6, bà H3 tuân thủ đúng các quy định về thủ tục công chứng và các quy định của pháp luật có liên quan đến việc thực hiện giao dịch dân sự. Tại thời điểm công chứng, bên t ng cho và bên nhận t ng cho có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, việc giao kết hợp đồng hoàn toàn tự nguyện, các bên giao kết đã ký hợp đồng trước m t công chứng viên. Việc công chứng được tiến hành theo quy trình một cửa, đảm bảo đúng trình tự, có sự công khai, minh bạch, đồng thời có sự giám sát giữa Công chứng viên và nhân viên nghiệp vụ. Do vậy, Phòng công chứng số 2 không ch p nhận yêu cầu khởi kiện của cụ N đề nghị tuyên bố hợp đồng t ng cho quyền sử dụng đ t ngày 10/3/2011 giữa cụ N và vợ chồng anh Năm vô hiệu, không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu trong trường hợp Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu.

Quan điểm của UBND xã N2, huyện N1, tỉnh H: Căn cứ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của UBND xã, khi gia đình cụ N gồm cụ N, ông B, bà H1 có hồ sơ tách đ t đảm bảo đúng quy định, UBND xã đã chứng thực hợp đồng t ng cho quyền sử dụng đ t sau khi các bên đã ký, ghi rõ họ tên và điểm chỉ vào hợp đồng tại trụ sở UBND xã N2. Việc UBND xã N2 chứng thực Hợp đồng t ng cho quyền sử dụng đ t là đảm bảo trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. UBND xã không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu trong trường hợp Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu.

Quan điểm của UBND huyện N1, tỉnh H: Ngày 07/4/2010, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đ t huyện N1 đã ký xác nhận cho cụ Đồng Thị N được nhận thừa kế quyền sử dụng đ t đối với thửa đ t số 112, tờ bản đồ số 07, diện tích 438m2 là đảm bảo quy định của pháp luật. Sau khi được toàn quyền sử dụng thửa đ t, cụ N đã thực hiện quyền tách thửa, t ng cho, chuyển mục đích sử dụng đ t theo quy định của pháp luật đ t đai. Cụ thể, năm 2011, UBND huyện N1 đã c p 02 gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t (một gi y số BC258196 mang tên Đồng Thị N, một gi y số BC258174 mang tên Phan Đình N6, V Thị H3) và 02 gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t năm 2016 (một gi y số CC235638 mang tên Phan Đình B và V Thị H1, một gi y số CC235689 mang tên Đồng Thị N). Các thủ tục t ng cho quyền sử dụng đ t giữa cụ N và các đối tượng liên quan đều được lập hợp đồng t ng cho, có chứng thực, công chứng theo đúng quy định. Vì vậy, việc UBND huyện N1 c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cho các đối tượng có liên quan nêu trên, trong đó có gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số CC235638 mang tên ông B, bà H1 năm 2016 là đảm bảo theo quy định của pháp luật. UBND huyện không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu trong trường hợp Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu.

Kết qu xác minh tại UBND xã N2, huyện N1, tỉnh H:

- Ngày 26/8/1991, cụ Phan Đình T7 được c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t (có chữ ký kh c d u của Chủ tịch UBND tỉnh H7) đối với thửa đ t số 112, tờ bản đồ số 7, diện tích 438m2 (trong đó: đ t ở 300m2, đ t vườn 138m2), sau đó được UBND huyện N1 ký, đóng d u xác nhận hợp pháp hóa quyền sử dụng đ t tại trang 3 của gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t ngày 01/11/2001. Năm 2009, gia đình cụ N cùng các con đã lập văn bản phân chia tài sản thừa kế, văn bản từ chối nhận tài sản thừa kế, UBND xã N2 đã chứng thực các văn bản này. Đối với chữ ký của bà Phan Thị T5 trong văn bản phân chia tài sản thừa kế và văn bản từ chối nhận tài sản thừa kế không phải do bà T5 ký do UBND xã khi làm thủ tục chưa ch t chẽ. Ngày 07/4/2010, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đ t huyện N1 đã ký xác nhận phân chia di sản thừa kế đối với thửa đ t nêu trên, theo nội dung xác nhận: Cụ Đồng Thị N nhận thừa kế quyền sử dụng đ t tại thửa đ t số 112, tờ bản đồ số 7 tại văn bản thừa kế do UBND xã N2 lập ngày 25/12/2009. Sau khi được nhận di sản thừa kế, cụ N đã đề nghị tách thửa đ t số 112, tờ bản đồ số 7 thành 02 thửa để t ng cho quyền sử dụng đ t: Ngày 10/3/2011, cụ N t ng cho ông Phan Đình N6 và bà V Thị H3 200m2 đ t ở nông thôn theo Hợp đồng t ng cho quyền sử dụng đ t có công chứng của Phòng công chứng số 2 tỉnh H. Ngày 05/5/2011, UBND huyện N1 đã c p 02 gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t: gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số BC258196 mang tên cụ Đồng Thị N tại thửa đ t số 112, tờ bản đồ số 7, diện tích 238m2 (trong đó đ t ở 100m2, đ t trồng cây lâu năm 138m2) và gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số BC258174 mang tên ông Phan Đình N6, bà V Thị H3 tại thửa đ t số 827, tờ bản đồ số 7, diện tích 200m2 đ t ở tại nông thôn. Năm 2016, cụ N tiếp tục đề nghị tách thửa đ t đã được c p năm 2011 (thửa đ t số 112, tờ bản đồ số 7, diện tích 238m2) để t ng cho ông Phan Đình B và bà V Thị H1, đồng thời cụ N đề nghị chuyển mục đích sử dụng đ t 20m2 từ đ t trồng cây lâu năm sang làm đ t ở đối với thửa đ t còn lại của cụ. Ngày 26/5/2016, UBND huyện N1 đã c p 02 gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t: gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số CC235638 mang tên ông Phan Đình B và bà V Thị H1 tại thửa đ t số 111, tờ bản đồ số 17, diện tích 121,3m2 (trong đó đ t ở 60m2, đ t trồng cây lâu năm 61,3m2) và gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số CC235689 mang tên cụ Đồng Thị N tại thửa đ t số 110, tờ bản đồ số 17, diện tích 123m2 (trong đó đ t ở 60m2, đ t trồng cây lâu năm 63m2). Ngày 13/11/2017, ông B và bà H1 lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t cho ông Phan Đình M và bà Nguyễn Thị H3, được UBND xã N2 chứng thực hợp đồng theo quy định. Ông M2, bà H3 đã hoàn thiện các thủ tục hành chính để được c p đổi lại gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t đ t theo quy định. Do cụ N có đơn nộp tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đ t đề nghị thu hồi gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t của ông B và bà H1 nên đến nay ông M2 và bà H3 chưa được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t.

- Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ thể hiện: Hiện trạng sử dụng thửa đ t số 827, tờ bản đồ số 7 mang tên ông N6, bà H3 là 427m2, tăng 227m2 do ông N6, bà H3 đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đ t của ông Phan Đình T1 (đã được bổ sung tại trang 4 của gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t của ông N6, bà H3). Hiện trạng sử dụng thửa đ t số 110, tờ bản đồ số 17 mang tên cụ N là 123,6m2, tăng 0,6m2 và hiện trạng sử dụng thửa đ t số 111, tờ bản đồ số 17 mang tên ông B, bà H1 là 121,9m2, tăng 0,6m2 đều là sai số do đo đạc.

Tại biên b n xem xét, thẩm định tại chỗ, biên b n thỏa thuận về việc xác định giá trị tài s n xác định:

1. Đ t :

Thửa đ t số 111, tờ bản đồ số 17, gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t mang tên ông B và bà H1 có diện tích 121,9m2; Thửa đ t số 110, tờ bản đồ số 17, gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t mang tên cụ N có diện tích 123,6m2; Thửa đ t số 827, tờ bản đồ số 07, gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t mang tên ông N6 và bà H3 có diện tích 427m2.

Giá đ t ở là 2.885.000 đồng/m2, giá đ t trồng cây lâu năm là 75.000 đồng/m2.

2. Tài sản trên đ t :

- Tài sản trên thửa đ t số 111, tờ bản đồ số 17, xã N2, huyện N1, tỉnh H: 01 công trình phụ nhà c p IV, diện tích 39,5m2 trị giá 14.293.000 đồng, 01 bể nước 7.709.000 đồng, 01 nhà chính c p IV diện tích 15,7m2 trị giá 4.803.000 đồng, 01 mái proximang kết c u tre diện tích 7,4m2 trị giá: 152.000 đồng, 01 bể lọc 1.36m3 trị giá: 1.045.000 đồng, sân trạt gạch vỡ, diện tích 30m2 trị giá 96.000 đồng. Tổng giá trị tài sản trên đ t là 28.098.000 đồng.

- Tài sản trên thửa đ t số 110, tờ bản đồ số 17, xã N2, huyện N1, tỉnh H: 01 bếp diện tích 4,4m2 trị giá 2.114.000 đồng, 01 mái tôn lạnh diện tích 41,5m2 trị giá 20.000.000 đồng, 01 nhà chính diện tích 61,1m2 trị giá 125.000.000 đồng, 01 nhà t m diện tích 4,5m2 trị giá 5.284.000 đồng, 01 nhà vệ sinh diện tích 2,8m2 trị giá 3.064.000 đồng, 01 sân trạt bê tông, diện tích 51m2 trị giá 1.080.000 đồng, tường bao giáp nhà ông B dài 3,4m, cao 1,5m trị giá 307.000 đồng, 01 t m tôn phía trên tường giáp nhà ông B, diện tích 8m2 trị giá 1.482.000 đồng, 01 cổng s t có 02 cánh kích thước 1,8m x 2,2m trị giá 372.000 đồng, 02 trụ cổng kích thước 2,2m x 0,45m x 0,45m trị giá 991.000 đồng, tường bao giáp đường thôn kích thước 2,7m x 1,5m trị giá 495.000 đồng. Tổng giá trị tài sản trên đ t là 160.189.000 đồng.

- Tài sản trên thửa đ t số 827, tờ bản đồ số 7, xã N2, huyện N1, tỉnh H: 01 nhà c p IV nuôi tằm diện tích 26,8m2 trị giá 27.434.000 đồng, 01 chuồng gà diện tích 3,8m2 trị giá 1.021.000 đồng, 01 nhà chính mái bằng diện tích 75,4m2 trị giá 268.280.000 đồng, 01 mái proximang phía sau nhà ở diện tích 74,9m2 trị giá 9.196.000 đồng, 01 dãy nhà chăn nuôi trị giá 24.119.000 đồng, mái proximang kết c u tre trị giá 680.000 đồng, 01 bể nước 6.159.000 đồng, 01 bể lọc 2.065.000 đồng, 01 nhà t m diện tích 4,4m2 trị giá : 321.000 đồng, 01 sân trạt bê tông gạch vỡ, diện tích 188m2 trị giá: 2.653.000 đồng, tường bao giáp bà Nhỡ 974.000 đồng, tường bao (giáp đường thôn) 260.000 đồng, 01 cổng s t 399.000 đồng, trụ cổng 290.000 đồng, tường xây từ cổng vào dãy chăn nuôi 2.997.000 đồng, 01 cây hồng xiêm 180.000 đồng. Tổng giá trị tài sản trên đ t là 345.229.000 đồng.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2020/DS-ST ngày 29/9/2020, Toà án nhân dân tỉnh H đã quyết định:

Áp dụng các điều 121, 122, 124, 722, 723 Bộ luật dân sự năm 2005; khoản 3 Điều 132 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 166, Điều 170 Luật đ t đai năm 2013; khoản 3 Điều 26, Điều 34, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không ch p nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Đồng Thị N yêu cầu tuyên bố Hợp đồng t ng cho quyền sử dụng đ t lập ngày 10/3/2011 giữa cụ N và vợ chồng ông Phan Đình N6, bà V Thị H3 (do Phòng công chứng số 2 tỉnh H công chứng) và Hợp đồng t ng cho quyền sử dụng đ t lập ngày 01/4/2016 giữa cụ N và vợ chồng ông Phan Đình B, bà V Thị H1 (có chứng thực của UBND xã N2, huyện N1, tỉnh H) vô hiệu; yêu cầu hủy gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số CC235638 do UBND huyện N1, tỉnh H c p ngày 26/5/2016 mang tên ông Phan Đình B và bà V Thị H1.

Xác định Hợp đồng t ng cho quyền sử dụng đ t lập ngày 10/3/2011 giữa cụ N và vợ chồng ông Phan Đình N6, bà V Thị H3 và Hợp đồng t ng cho quyền sử dụng đ t lập ngày 01/4/2016 giữa cụ N và vợ chồng ông Phan Đình B, bà V Thị H1 có hiệu lực.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và thông báo quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 12/10/2020, nguyên đơn là cụ Đồng Thị N có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo là cụ Đồng Thị N giữ nguyên yêu cầu kháng cáo cho rằng ông Phan Đình L, bà Phan Thị N, bà Phan Thị T không ký tại Văn bản từ chối hưởng tài sản thừa kế, Văn bản phân chia tài sản thừa kế lập ngày 25/12/2009 nên Hợp đồng t ng cho quyền sử dụng đ t lập ngày 10/3/2011 giữa cụ N và vợ chồng ông Phan Đình N6, bà V Thị H3 và Hợp đồng t ng cho quyền sử dụng đ t lập ngày 01/4/2016 giữa cụ N và vợ chồng ông Phan Đình B, bà V Thị H1 nên đề nghị Tòa án phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm; tuyên bố các Hợp đồng nêu trên vô hiệu; ch p nhận yêu cầu khởi kiện đề nghị hủy gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số CC235638 do UBND huyện N1, tỉnh H c p ngày 26/5/2016 mang tên ông Phan Đình B và bà V Thị H1. Cụ N tự nguyện trả lại 350.000.000 đồng vợ chồng ông Phan Đình N6, bà V Thị H3.

Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân c p cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Từ thời điểm cụ N và các con gồm ông L, ông T1, bà N7, bà S, ông B, ông N6 lập Văn bản từ chối hưởng tài sản thừa kế có chứng thực của UBND xã N2 vào ngày 25/12/2009 đến năm 2016, cụ N đã đăng ký chỉnh lý sửa đổi Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t, tách thửa và đã thực hiện r t nhiều giao dịch chuyển đổi quyền sử dụng đ t nhưng các đồng thừa kế của cụ Tê không phản đối. Những hộ gia đình nhận chuyển nhượng đ t đã được c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t và đã thay đổi hiện trạng sử dụng đ t nhưng những người không ký tại Văn bản từ chối hưởng tài sản thừa kế, Văn bản phân chia tài sản thừa kế lập ngày 25/12/2009 c ng không khiếu nại, tranh ch p nên ý kiến của cụ N và các con của cụ cho rằng bà Phan Thị T5 không biết và không đồng ý giao kỷ phần thừa kế mà bà được hưởng của cụ T7 cho cụ N quản lý, sử dung và định đoạt là không đúng thực tế. Tòa án c p sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Quốc T1 và ông Phan Đình T1 đề nghị cụ Nhỡ tự nguyện trả lại 350.000.000 đồng cho vợ chồng ông Phan Đình M và bà Nguyễn Thị H3 để kh c phục hậu quả do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t vô hiệu không được người có quyền lợi và ngh a vụ liên quan là vợ chồng ông Phan Đình M và bà Nguyễn Thị H3 ch p nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 309 Bộ Luật tố tụng dân sự, không ch p nhận kháng cáo của cụ N; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết qu tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Nguyên đơn là cụ Đồng Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố Hợp đồng t ng cho quyền sử dụng đ t lập ngày 10/3/2011 giữa cụ N và vợ chồng ông Phan Đình N6, bà V Thị H3 (do Phòng công chứng số 2 tỉnh H công chứng) và Hợp đồng t ng cho quyền sử dụng đ t lập ngày 01/4/2016 giữa cụ N và vợ chồng ông Phan Đình B, bà V Thị H1 (có chứng thực của UBND xã N2, huyện N1, tỉnh H) vô hiệu đồng thời yêu cầu hủy Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số CC235638 do UBND huyện N1, tỉnh H c p ngày 26/5/2016 mang tên ông Phan Đình B và bà V Thị H1 nên Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn là cụ Đồng Thị N kháng cáo trong hạn luật định nên được ch p nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Bà Phan Thị N5 là người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan trong vụ án, bị khuyết tật về trí tuệ, mức độ n ng, đã được c p gi y xác nhận và được hưởng trợ c p hàng tháng. Tòa án sơ thẩm đã giải thích, hướng dẫn để các đương sự thực hiện quyền yêu cầu tuyên bố bà N7 m t năng lực hành vi dân sự ho c có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định tại khoản 1 Điều 22 Bộ luật dân sự năm 2015 nhưng không ai yêu cầu. Cụ N và các anh chị em của bà N7 là ông T1, ông L, ông N6, bà S, ông B, bà T5 thống nh t cử ông Phan Đình T1 là người đại diện cho bà N7 tham gia tố tụng tại Tòa án nhân dân tỉnh H. Do vậy, Tòa án sơ thẩm giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục chung là đúng quy định của pháp luật (theo Giải đáp một số v n đề nghiệp vụ số 01 ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao) nên ông Phan Đình T1 là người tiếp tục đại diện cho bà N7 tham gia tố tụng theo thủ tục phúc thẩm.

Bị đơn là ông Phan Đình B, bà V Thị Ha1 có đơn đề nghi xét xử v ng m t. Tại phiên tòa phúc thẩm có m t người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông B, bà H1 là bà Nguyễn Thị Tuyết, Luật sư Công ty Luật TNHH Trung Cường thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.

Tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ thể hiện: Cụ Phan Đình T7 và cụ Đồng Thị N sinh được 08 người con là Phan Đình L, Phan Đình V (là liệt sỹ, hy sinh năm 1979, chưa có vợ con), Phan Đình T1, Phan Đình N6, Phan Thị N5, Phan Thị S, Phan Đình B, Phan Thị T5. Ngoài ra, cụ N và cụ T7 không có con nuôi, con riêng khác. Cụ Phan Đình T7 chết ngày 22/5/2001, không để lại di chúc.

Cụ T7 và cụ N tạo dựng được diện tích đ t 1.252m2 tại thôn T, xã N2, huyện N1, tỉnh H, chưa được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t nhưng đã được thể hiện tại bản đồ 299 của UBND xã N2, huyện N1, tỉnh H. Khoảng N6 1991, hai cụ tách đ t cho con là anh Phan Đình T1 diện tích 240m2 và bán cho anh Phan Đình M1 310m2. Hai diện tích đ t trên đã được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t hợp pháp. Diện tích đ t của hai cụ còn lại là 438m2 thuộc thửa số 112, tờ bản đồ số 7, được UBND tỉnh H7 (nay là tỉnh H) c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t mang tên cụ Phan Đình T7 vào ngày 26/8/1991. Tài sản trên đ t có 01 nhà mái ngói c p 4 năm gian đã c nát.

Sau khi cụ T7 chết, ngày 25/12/2009, cụ N và các con gồm ông L, ông T1, bà N7, bà S, ông B, ông N6 đã lập Văn bản từ chối hưởng tài sản thừa kế có nội dung phân chia di sản thừa kế của cụ T7 là quyền sử dụng diện tích đ t 438m2 và 5 gian nhà c p 4, thống nh t giao toàn bộ cho cụ N được quyền sử dụng. Văn bản có chữ ký của cụ N, ông L, ông T1, bà N7, ông N6, bà S, ông B, bà T5 và có chứng thực của UBND xã N2 ngày 25/12/2009. Ngoài ra, ông L, ông T1, bà N7, ông N6, bà S, ông B, bà T5 còn có các “Văn bản từ chối nhận tài sản thừa kế” đều có chứng thực của UBND xã N2 cùng ngày 25/12/2009.

M c dù cho rằng không ký tại Văn bản phân chia tài sản thừa kế lập ngày 25/12/2009 nhưng ông Phan Đình Lư, bà Phan Thị Nhàn, bà Phan Thị Tám không yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết tên của các ông bà tại Văn bản nêu trên. Sau đó, căn cứ Văn bản phân chia tài sản thừa kế lập ngày 25/12/2009, cụ N đã tiến hành thủ tục đăng ký, kê khai đối với toàn bộ 438m2 đ t và 5 gian nhà c p 4 thuộc thửa số 112, tờ bản đồ số 7. Ngày 07/4/2010, UBND huyện N1 đã ghi chỉnh lý biến động về việc cụ N được nhận thừa kế quyền sử dụng đ t tại trang 4 của Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t mang tên cụ Phan Đình Tê và Cụ N đăng ký, kê khai tách thửa đ t số 112, tờ bản đồ số 7 để t ng cho ông Phan Đình N6 và bà V Thị H3 200m2 đ t ở nông thôn theo Hợp đồng t ng cho quyền sử dụng đ t có công chứng của Phòng công chứng số 2 tỉnh H chứng thực ngày 10/3/2011 và đăng ký kê khai để được c p đổi Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t mang tên cụ T7 thành Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số BC258196 mang tên cụ Đồng Thị N đối với diện tích 238m2 đ t còn lại thuộc thửa đ t số 112, tờ bản đồ số 7 nhưng ông L, bà Nhàn, bà Tám không khiếu nại, phản đối.

Năm 2016, cụ N tiếp tục định đoạt về tài sản thuộc sở hữu của mình đối với quyền sử dụng đ t đã được Nhà nước công nhận bằng việc đề nghị tách thửa đ t đã được c p năm 2011 (thửa đ t số 112, tờ bản đồ số 7, diện tích 238m2) để t ng cho ông Phan Đình B và bà V Thị H1. Đồng thời, cụ N đề nghị chuyển mục đích sử dụng 20m2 đ t từ đ t trồng cây lâu năm sang làm đ t ở đối với thửa đ t còn lại của cụ và đã được UBND huyện N1 c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số CC235638 ngày 26/5/2016 mang tên ông Phan Đình B và bà V Thị H1 đối với thửa đ t số 111, tờ bản đồ số 17, diện tích 121,3m2 (trong đó đ t ở 60m2, đ t trồng cây lâu năm 61,3m2) và c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số CC235689 ngày 26/5/2016 mang tên cụ Đồng Thị N tại thửa đ t số 110, tờ bản đồ số 17, diện tích 123m2 (trong đó đ t ở 60m2, đ t trồng cây lâu năm 63m2) mà ông L, bà Nhàn, bà Tám c ng không khiếu nại, phản đối.

Như vậy, từ thời điểm cụ N và các con gồm ông L, ông T1, bà N7, bà S, ông B, ông N6 lập Văn bản từ chối hưởng tài sản thừa kế có chứng thực của UBND xã N2 vào ngày 25/12/2009 đến khi vợ chồng ông M2, bà H3 kê khai, đăng ký c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đối với diện tích 121,3m2 thuộc thửa đ t số 111, tờ bản đồ số 17 thì cụ N đã thực hiện r t nhiều giao dịch chuyển đổi và những hộ gia đình nhận chuyển nhượng đ t đã thay đổi hiện trạng sử dụng đ t, được c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t, các đồng thừa kế của cụ Tê không khiếu nại, tranh ch p.

Ngày 13/11/2017, ông B và bà H1 lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t cho ông Phan Đình M và bà Nguyễn Thị H3, được UBND xã N2 chứng thực hợp đồng theo quy định. Ông M2, bà H3 đã hoàn thiện các thủ tục hành chính để được c p đổi lại gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t. Do cụ N có đơn nộp tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đ t huyện N1 đề nghị thu hồi gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t của ông B và bà H1 nên đến nay ông M2 và bà H3 chưa được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t.

Xét th y, Hợp đồng t ng cho quyền sử dụng đ t giữa cụ Đồng Thị N với vợ chồng ông Phan Đình N6 và bà V Thị H3 và Hợp đồng t ng cho quyền sử dụng đ t giữa cụ Đồng Thị N với vợ chồng ông Phan Đình B và bà V Thị H1 có giá trị pháp lý như nhau. Ban đầu, cụ N có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố Hợp đồng t ng cho quyền sử dụng đ t lập ngày 01/4/2016 giữa cụ N và vợ chồng ông Phan Đình B, bà V Thị H1 (có chứng thực của UBND xã N2, huyện N1, tỉnh H) vô hiệu; hủy gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số CC235638 do UBND huyện N1, tỉnh H c p ngày 26/5/2016 mang tên ông Phan Đình B và bà V Thị H1 và cả cụ N và ông N6 đều xác định tuy bà T5 không ký vào Văn bản từ chối nhận di sản thừa kế thì c ng không ảnh hưởng đến việc cụ N tách cho vợ chồng ông N6, bà H3 200m2 đ t và xác định việc cụ N tách đ t cho vợ chồng ông N6 là cho hẳn quyền sử dụng đ t chứ không phải chỉ cho để làm thủ tục thế ch p vay tiền ngân hàng. Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số BC258174 của UBND huyện N1 c p ngày 05/5/2011 đối với thửa đ t số 827, tờ bản đồ số 7, diện tích 200m2 đ t ở tại nông thôn mang tên ông Phan Đình N6, bà V Thị H3 là có căn cứ, đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án, cụ N bổ sung yêu cầu khởi kiện, đề nghị tuyên bố Hợp đồng t ng cho quyền sử dụng đ t lập ngày 10/3/2011 giữa cụ N và vợ chồng ông Phan Đình N6, bà V Thị H3 (do Phòng công chứng số 2 tỉnh H công chứng) vô hiệu. Cụ N không đề nghị giải quyết hậu quả của hai hợp đồng vô hiệu.

Như vậy, ý chí của cụ N hướng tới là nhằm hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t xác lập ngày 13/11/2017 giữa vợ chồng ông Phan Đình B và bà V Thị H1 với vợ chồng ông Phan Đình M và bà Nguyễn Thị H3. Tuy nhiên, đại diện UBND xã N2, huyện N1, tỉnh H khẳng định tại thời điểm ký kết hợp đồng t ng cho quyền sử dụng đ t ngày 01/4/2016 thì cụ N, ông B, bà H1 đã được đại diện UBND xã N2 giải thích quyền và ngh a vụ của các bên tham gia ký kết hợp đồng; các bên c ng xem kỹ lại toàn bộ nội dung hợp đồng; tại thời điểm chứng thực, các bên tham gia giao kết hợp đồng tự nguyện, minh mẫn và nhận thức, làm chủ được hành vi ký, điểm chỉ vào hợp đồng trước m t ông Viển, sau đó ông Viển thực hiện chứng thực và ký, điểm chỉ vào hợp đồng trước m t người thực hiện chứng thực. Cụ N c ng không cung c p được tài liệu, chứng cứ chứng minh vợ chồng ông B, bà Hà đã lừa dối cụ N để cụ ký vào hợp đồng t ng cho quyền sử dụng đ t.

Hợp đồng t ng cho quyền sử dụng đ t lập ngày 10/3/2011 giữa cụ N và vợ chồng ông Phan Đình N6, bà V Thị H3 và Hợp đồng t ng cho quyền sử dụng đ t lập ngày 01/4/2016 giữa cụ Đồng Thị N với vợ chồng ông Phan Đình B và bà V Thị H1 được xác lập hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung của các hợp đồng không vi phạm điều c m của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, các bên tham gia giao kết có năng lực hành vi dân sự nên Tòa án c p sơ thẩm tuyên bố các Hợp đồng t ng cho quyền sử dụng đ t nêu trên có hiệu lực là có căn cứ.

14 Trên cơ sở Hợp đồng t ng cho quyền sử dụng đ t lập ngày 01/4/2016 giữa cụ Đồng Thị N với vợ chồng ông Phan Đình B và bà V Thị H1, ngày 26/5/2016 UBND huyện N1 c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số CC235638 đối với thửa đ t số 111, tờ bản đồ số 17, diện tích 121,3m2 (trong đó đ t ở 60m2, đ t trồng cây lâu năm 61,3m2) mang tên ông Phan Đình B và bà V Thị H1 là đúng quy định của pháp luật. Ông B và bà H1 chuyển nhượng quyền sử dụng toàn bộ diện tích đ t tại Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t nêu trên cho ông Phan Đình M và bà Nguyễn Thị H3, được UBND xã N2 chứng thực hợp đồng theo quy định nên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t xác lập ngày 13/11/2017 giữa vợ chồng ông Phan Đình B và bà V Thị H1 với vợ chồng ông Phan Đình M và bà Nguyễn Thị H3 là hợp pháp. Việc Cụ N yêu cầu hủy Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số CC235638 do UBND huyện N1, tỉnh H c p ngày 26/5/2016 mang tên ông Phan Đình B và bà V Thị H1 làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là ông Phan Đình B và bà V Thị H1, của người có quyền lợi và ngh a vụ liên quan là ông Phan Đình M và bà Nguyễn Thị H3 nên Tòa án c p sơ thẩm bác yêu cầu hủy gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số CC235638 do UBND huyện N1, tỉnh H c p ngày 26/5/2016 mang tên ông Phan Đình B và bà V Thị H1 của nguyên đơn là đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Quốc T1 và người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan là ông Phan Đình T1 đều đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm tạo điều kiện để Cụ N được tự nguyện trả lại 350.000.000 đồng cho vợ chồng ông Phan Đình M và bà Nguyễn Thị H3 và đề nghị ông M2, bà H3 trả lại đ t nhưng không được người có quyền lợi và ngh a vụ liên quan là vợ chồng ông Phan Đình M và bà Nguyễn Thị H3 ch p nhận nên không có cơ sở để xem xét.

Kháng cáo của nguyên đơn không có cơ sở để ch p nhận.

Về án phí dân sự phúc thẩm: M c dù kháng cáo của cụ N không được ch p nhận song cụ N thuộc trường hợp người cao tuổi và có đề nghị nên miễn án phí dân sự phúc theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không ch p nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn là cụ Đồng Thị N; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2020/DS-ST ngày 29/9/2020 của Toà án nhân dân tỉnh H;

2. Án phí dân sự phúc thẩm: Cụ Đồng Thị N được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên án.

Cỡ chữ