- Tranh chấp gì? án hình sự — "123.Tội giết người (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 109/2020/HS-ST Ngày: 11-11-2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trƣơng Văn Lộc
Thẩm phán:
Ông Lê Quân Vƣơng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Quang Ẩn
Bà Thạch Thị Hai
Bà Trần Thị Đẹp.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tƣờng – Thƣ ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dƣơng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Tấn Lập – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 14 và 21 tháng 10 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dƣơng mở phiên tòa sơ thẩm, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 97/2020/TLST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2020, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 105/2020/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2020 đối với các bị cáo:
1. Huỳnh Văn H, sinh năm 1989 tại tỉnh V; nơi thƣờng trú: ấp Ph, xã Ph, huyện Trà Ôn, tỉnh V; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới t nh: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn H và bà Nguyễn Thị Đ; bị cáo chƣa có vợ con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/5/2019 đến nay, có mặt.
2. Võ Tấn L, sinh năm 1988 tại tỉnh T; nơi thƣờng trú: ấp X, xã TA, huyện D, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới t nh: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Trần Thị Nh; bị cáo có vợ là Hồ Thị Cẩm T; có 02 ngƣời con, ngƣời con lớn sinh năm 2009, ngƣời con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 26/9/2007, bị Tòa án nhân dân tỉnh T xử phạt 06 tháng tù nhƣng cho hƣ ởng án treo về tội “Cố ý gây thƣơng t ch” theo Bản án hình sự phúc thẩm số 184/2007/HSPT, đã chấp hành xong. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/5/2019 đến nay, có mặt.
3. Nguyễn Văn Th, sinh năm 1980 tại tỉnh Bình Dƣơng; nơi thƣờng trú: ấp G, xã TH, huyện D, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới t nh: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Th và bà Phan Thị Kim A; bị cáo có vợ là Lê Thị Th; có 02 ngƣời con, ngƣời con lớn sinh năm 2003, ngƣời con nhỏ sinh năm 2006; tiền án: Ngày 29/01/2019, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 25.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” theo Bản án hình sự phúc thẩm số 20/2019/HS-PT, bị cáo chƣa chấp hành xong hình phạt tiền; tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/5/2019 đến nay, có mặt.
4. Nguyễn Hải H1, sinh năm 1994 tại tỉnh Bình Dƣơng; nơi thƣờng trú: ấp Chợ, xã TH, huyện D, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới t nh: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân Tr và bà Nguyễn Thị Phƣợng L; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Diễm Tr; có 01 ngƣời con sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 01/8/2019, bị Tòa án nhân dân huyện D xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Cố ý gây thƣơng t ch theo Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2019/HS-ST, bị cáo chƣa chấp hành xong. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/8/2019 đến nay, có mặt.
5. Phạm Văn Ch, sinh năm 1994 tại Thành phố Hồ Ch Minh; nơi thƣờng trú: tổ 7, ấp Ph, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Ch Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới t nh: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm V và bà L; bị cáo chƣa có vợ con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/8/2019 đến nay, có mặt.
6. Nguyễn Minh D, sinh năm 1988 tại tỉnh Bình Dƣơng; nơi thƣờng trú: ấp B, xã TA, huyện D, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới t nh: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị Kh; bị cáo có vợ là Huỳnh Lê Kim C; có 02 ngƣời con, ngƣời con lớn sinh năm 2008, ngƣời con nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/5/2019 đến nay, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Văn H và Nguyễn Minh D: Luật sƣ Trần Văn Nam – Văn phòng Luật sƣ Bình Triệu thuộc Đoàn Luật sƣ tỉnh Bình Dƣơng; địa chỉ: số 64/16, khu phố Tây, phƣờng Vĩnh Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hải H1 và Nguyễn Văn Ch: Luật sƣ Lê Trọng Cƣờng – Văn phòng Luật sƣ Cƣờng & Cộng sự thuộc Đoàn Luật sƣ tỉnh Bình Dƣơng; địa chỉ: khu phố 2, thị trấn Phƣớc Vĩnh, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Võ Tấn L và Nguyễn Văn Th: Luật sƣ D Minh Ngọc – Văn phòng Luật sƣ D Minh Ngọc thuộc Đoàn Luật sƣ tỉnh Bình Dƣơng; địa chỉ: số 49/2, khu phố Đồng An 1, phƣờng Bình Hòa, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt.
Bị hại: Ông Lê Minh H2, sinh 1995; địa chỉ thƣờng trú: ấp C, xã TA, huyện D, đã chết.
Người đại diện theo pháp luật của bị hại Lê Minh H2:
1. Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1964; (mẹ ông H2), có mặt.
2. Bà Nguyễn Hƣơng L, sinh năm 1994; (vợ ông H2), có mặt.
Cùng địa chỉ thƣờng trú: ấp C, xã TA, huyện D, tỉnh Bình Dƣơng.
Người làm chứng:
1. Ông Lê Minh H3, sinh năm 1987; địa chỉ thƣờng trú: ấp C, xã TA, huyện D, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt.
2. Ông Hồ Văn R, sinh năm 1979; địa chỉ thƣờng trú: ấp C, xã TA, huyện D, có mặt.
3. Ông Lê Thể D, sinh năm 1986; địa chỉ thƣờng trú: ấp X, xã TA, huyện D, có mặt.
4. Bà Nguyễn Thị Diễm TR, sinh năm 1994; địa chỉ thƣờng trú: ấp C, xã TA, huyện D, có mặt.
5. Bà Tăng Thị Cẩm H3, sinh năm 2000; địa chỉ thƣờng trú: phƣờng Th, quận Th, thành phố Cần Thơ, có yêu cầu vắng mặt.
6. Bà Huỳnh Lê Kim Ch, sinh năm 1990; địa chỉ thƣờng trú: ấp B, xã TA, huyện D, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Ông Lê Minh H3, sinh năm 1987, hộ khẩu thƣờng trú (HKTT) ở ấp C, xã TA, huyện D, tỉnh Bình Dƣơng và Võ Tấn L, sinh năm 1988, HKTT ở ấp T, xã H, huyện T, tỉnh T có mâu thuẫn với nhau về việc vào năm 2016, ông H3 tham gia tố tụng với tƣ cách là ngƣời làm chứng trong vụ án tai nạn giao thông dẫn đến cha vợ của L là ông Trần Văn E, sinh năm 1958, HKTT ở ấp X, xã TA, huyện D tử vong. L cho rằng việc làm chứng của ông H3 gây bất L ph a gia đình vợ của L. Đến ngày 21/5/2019, ông H3 và vợ L là bà Hồ Thị Cẩm T, sinh năm 1985 (cùng HKTT với ông E) xảy ra mẫu thuẫn về việc cạnh tranh mua bán mỹ phẩm trên Facebook nên ngày 23/5/2019, L gọi điện thoại hẹn gặp ông H3 tại cổng chào ấp C, xã TA, huyện D, Bình Dƣơng để nói chuyện giải quyết mâu thuẫn.
Khoảng 19 giờ ngày 23/5/2019, Võ Tấn L, Nguyễn Minh D, Huỳnh Văn H, Nguyễn Văn Th, Nguyễn Hải H1, Phạm Văn Ch và ông Hồ Văn R, sinh năm 1979, HKTT ở ấp C, xã TA, huyện D; ông Lê Thể D, sinh năm 1986, HKTT ở ấp X, xã TA, huyện D; vợ H1 là bà Nguyễn Thị Diễm TR, sinh năm 1994, HKTT ở ấp C, xã TA, huyện D; bạn gái Ch là bà Tăng Thị Cẩm H3, sinh năm 2000, HKTT ở phƣờng T, quận T, thành phố Cần Thơ và vợ D là bà Huỳnh Lê Kim Ch, sinh năm 1990 tổ chức ăn, uống bia tại quán ăn của vợ chồng D ở ấp B, xã TA, huyện D, tỉnh Bình Dƣơng (L, D, H, Th, H1, Ch, R và Diện là bạn với nhau). Trong lúc ăn uống thì L vào khu vực bếp nhà D lấy một rựa dài khoảng 90cm, cán bằng gỗ, lƣỡi bằng kim loại màu đen và nói cho cả nhóm biết là đi gặp H3 giải quyết mâu thuẫn (L không nói rõ mâu thuẫn gì và cũng không ai hỏi L về nội dung mâu thuẫn). Khi L vừa đi thì ông Lê Thanh H, sinh năm 1983, HKTT ở ấp Ch, xã TH, huyện D, tỉnh Bình Dƣơng (ông Hùng quen với D và ông H3) gọi điện rồi đến quán gặp D để nhờ D đứng ra giải hòa cho ông H3 và L thì D đồng ý. Sau đó, D gọi điện kêu L quay lại quán, khi L quay lại quán thì L để rựa trên két bia gần bàn ăn uống của cả nhóm. Khoảng 10 phút sau thì ông H3 cùng với em ruột là ông Lê Minh H2, sinh năm 1995, HKTT ở xã TA, huyện D và bạn của H2 là ông Lê Quốc H, sinh năm 1993 và ông Đặng Tuấn A, sinh năm 1996, cùng HKTT ở khu phố 6, thị trấn D, huyện D đi trên 02 xe mô tô đến quán của D và ngồi uống bia chung với nhóm của L để nói chuyện giải hòa (ông H và ông Tuấn A khai: việc đến quán của D là do ông H2 rủ đến để ăn uống cùng bạn của ông H2, ngoài ra, ông H2 không nói gì thêm cho Hòa và ông Tuấn Anh về mâu thuẫn của ông H3). Lúc này, L và ông H3 kể lại cho D và cả nhóm nghe việc mâu thuẫn là do H3 có ra làm chứng trong vụ tai nạn giao thông mà theo L là không có L cho gia đình vợ của L. Đƣợc ông H và D làm trung gian hòa giải thì L đồng ý bỏ qua mâu thuẫn nhƣng L yêu cầu ông H3 phải đến nhà xin lỗi mẹ vợ của L thì ông H3 đồng ý. Tuy nhiên, lúc này ông H2 bất ngờ phản ứng: “Hẹn gặp rồi thì chơi luôn đi” nên L bực tức và đứng dậy thách thức: “Giờ mày muốn chơi phải không”, sau đó, L, Ch, H, Th, H1 và D đứng dậy xô sát với ông H2 và ông H3. Ch nhìn thấy ông H2 đƣa tay vào túi áo, Ch nghĩ ông H2 sẽ lấy hung kh đánh trả nên Ch liền chạy đến khu vực để két bia, lấy rựa mà L để trƣớc đó xông vào cầm rựa giơ lên cao chém H2 thì bạn gái của Ch là bà H3 cùng vợ của D là bà Ch ôm ngăn lại nên Ch không chém đƣợc ông H2, đồng thời, L cũng chạy đến giật rựa trên tay Ch vì sợ Ch dùng rựa chém chết ông H2 nhƣng Ch cƣơng quyết không đƣa rựa cho L mà đòi dùng rựa chém ông H2. Tuy nhiên, qua giằng co thì L đã giật đƣợc rựa trên tay Ch vứt xuống đất (do Ch bị bà H3 và bà Ch ôm lại nên không tiếp tục đánh H2 đƣợc nữa). Lúc này, Th xông vào dùng tay đánh ông H2 nên ông H2 đánh lại thì L và H1 cùng Th xông vào dùng tay đánh ông H2. Thấy vậy, D chạy vào phòng ngủ nhà D lấy 05 mã tấu ra ném ra ở khu vực trƣớc nhà và hô hào: “Tụi bay th ch chơi thì chơi đi”. Sau đó, Th, L và H1 tiếp tục xông vào dùng tay chân đánh ông H2, ông H2 lùi ra khu vực đƣờng đất trƣớc nhà D và trong lúc ông H2 bị Th, H1 và L đánh thì H1 bị ông H2 dùng dao bằng kim loại màu trắng dài 15,5cm, lƣỡi dao dài 2,5cm cong thành hình cái móc đâm nhiều nhát trúng vùng đầu, mặt và cổ tay trái làm H1 bị chảy nhiều máu. Ngay sau đó, H chạy vào khu vực quầy bán nƣớc lấy 01 dao Thái Lan chạy ra đâm 03 nhát trúng vào vùng bụng, ngực của ông H2 nên ông H2 bỏ chạy về ph a khu vực vƣờn chuối bên hông trái nhà D (việc H dùng dao đâm ông H2 thì Th, H1 và L không nhìn thấy vì trời tối và sự việc đánh nhau đang hỗn loạn, vƣờn chuối cách vị tr đánh nhau ban đầu là 09 m). Lúc H dùng dao đâm H2 thì Th nhặt một đoạn kim loại hình hộp, k ch thƣớc (32x3x6)cm ở gần đó và cùng với L, H và H1 tiếp tục đuổi đánh ông H2 nhƣng khi ông H2 bỏ chạy đƣợc một đoạn thì gục xuống ở khu vực vƣờn chuối; Th, H1, H và L nhìn H2 bất tỉnh nên không đánh nữa mà quay trở lại nhà D, H nói cho D biết là vừa dùng dao đâm ông H2. Trong lúc Th, L, H1 và H đánh ông H2, ông H3 chạy đến can ngăn thì bị một đối tƣợng dùng vật sắc nhọn đâm 01 nhát trúng vào cánh tay trái gây thƣơng t ch (không rõ ngƣời gây thƣơng t ch cho ông H3). Sau khi đâm ông H2 xong, H ném dao Thái lan gây án tại khu đất trống ph a sau nhà của D rồi D đƣa cho H 05 mã tấu (dao tự chế) đem ra vƣờn cao su ph a sau quán của D cất giấu. Còn ông H2 đƣợc ông H3 đƣa đi cấp cứu ở Trung tâm y tế huyện D nhƣng do vết thƣơng quá nặng, ông H2 đã tử vong. Riêng bạn ông H3, ông H2 là ông Hùng, ông Hòa và ông Tuấn Anh không tham gia đánh nhau mà bỏ chạy khi thấy ông H2, ông H3 bị nhóm của H đánh; còn ông R và ông Diện là bạn của D cũng bỏ chạy khi thấy nhóm H đánh ông H3, ông H2.
Đến khoảng 20 giờ 10 phút cùng ngày, ông R đến Công an xã TA, huyện D trình báo vụ việc. Tiếp nhận tin báo, Công an xã TA đến hiện trƣờng ghi nhận vụ việc ban đầu, bảo vệ hiện trƣờng đồng thời báo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dƣơng đến tiếp tục xử lý vụ việc theo thẩm quyền.
* Vật chứng thu giữ khi khám nghiệm hiện trƣờng:
01 thanh kim loại k ch thƣớc (80x3x3)cm; 01 chiếc bao tay bên phải màu đen; 01 chiếc áo bị cháy nhiệt hóa; 01 đôi dép hiệu PUMA màu đỏ; 01 đôi dép hiệu Tiến Đạt màu nâu đen; 01 chiếc mũ lƣỡi trai màu đen; 01 chiếc áo sơ mi dài tay màu vàng; 01 thanh kim loại k ch thƣớc (32x3x6)cm; 01 đôi dép hiệu Adidas màu xám; 01 dây chuyền bằng dây dù màu đen có mặt đá hình phật màu xanh; 01 chuỗi hạt đeo tay bằng đá; 01 dao bằng kim loại màu trắng dài 15,5cm, lƣỡi dao dài 2,5cm cong thành hình cái móc; 01 áo thun ngắn tay màu xanh; 01 chiếc mũ lƣỡi trai màu đen đỉnh mũ có vết rách; 01 dao và một mảnh ốp cán dao bằng nhựa màu đen;
01 dao tự chế dài 89cm cán bằng gỗ tròn dài 46cm lƣỡi bằng kim loại màu đen dài 43cm; 02 dao tự chế bằng kim loại màu trắng dài 64cm cán dao dài 21cm lƣỡi dao dài 43cm; 01 dao tự chế dài 72cm mũi nhọn lƣỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 50cm cán dao đƣợc quấn dây dù dài 22cm; 01 dao dài 51cm lƣỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 37cm trên lƣỡi dao có hình đầu trâu với dòng chữ OXHEAD cán dao bằng gỗ màu nâu dài 14cm và một rựa có lƣỡi bằng sắt dài 25cm, cán bằng gỗ dài 60cm.
Riêng dao Thái Lan mà H dùng làm hung kh gây án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dƣơng đã tổ chức truy tìm xung quanh nhà D nhƣng không tìm thấy.
* Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 379/GĐPY ngày 27/5/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng đối với nguyên nhân tử vong của nạn nhân Lê Minh H2, kết luận:
1. Khám ngoài:
- Đầu – mặt – cổ:
+ Vùng trán có 01 vết rách da từ chân tóc trán xuống đầu trong mày phải, k ch thƣớc (7x0,6)cm, cách đầu trong đuôi mày là 01cm;
- Thân:
+ Vùng ngực, bụng có 03 vết thủng da cơ sắc gọn; vết 01 cách vai trái lên 7,5cm, cách xƣơng ức 01cm, có 01 vết rách da, cơ hình bán nguyệt k ch thƣớc (2x0,4)cm, hƣớng từ dƣới lên trên, từ ngoài vào trong.
+ Vết 02 cách vết 01 xuống 16cm, cách gai cậu trái 17cm, cách rốn 04cm, có vết rách da cơ hình bán nguyệt k ch thƣớc (5,5x02)cm, hƣớng từ dƣới lên trên, từ ngoài vào trong.
+ Vết 03 cách vết 02 là 16cm, cách gai chậu 10cm, qua đƣờng nách giữa 1/3 dƣới có 01 vết rách da hình bán nguyệt k ch thƣớc (3,2x1,3)cm hƣớng từ dƣới lên trên, từ ngoài vào trong.
+ Vết xƣớc da cơ 1/3 trên đƣờng nách giữa k ch thƣớc (3x0,2)cm; vùng vai ngực phải xây sát da bầm tụ máu k ch thƣớc (24x8,5)cm; vùng vai trái xuống lƣng trái xây sát da bầm tụ máu diện rộng k ch thƣớc (35x10)cm; vùng gai chậu trái có vết xây sát da k ch thƣớc (3x1)cm.
2. Khám trong:
- Đầu:
+ Bầm tụ máu dƣới da và trong cơ vùng giữa trán k ch thƣớc (8x5)cm;
+ Xƣơng hộp sọ còn nguyên vẹn; không tụ máu ngoài màng cứng; không xuất huyết màng não; diện cắt não, nhu mô não không dập rách, không xuất huyết.
- Ngực – Bụng:
+ Vết 01 bầm tụ máu vùng ngực trái k ch thƣớc (4x6)cm, đứt sụn sƣờn số 06, 07 k ch thƣớc (3x0,2)cm, thủng vào trong lồng ngực, tụ máu trƣớc bao tim k ch thƣớc (13x8)cm, rách bao tim k ch thƣớc (4x0,5)cm, thấu vào thất phải k ch thƣớc (1,1x0,2)cm;
+ Vết 02 xuyên từ bụng lên gan, thủng gan k ch thƣớc (4x0,5)cm, sâu 1,5cm, không tổn thƣơng ruột trong ổ bụng.
+ Vết 03 từ 1/3 dƣới đƣờng nách giữa xuyên lên trên làm thủng cơ hoành k ch thƣớc (03x01)cm, không tổn thƣơng tạng trong ổ bụng và trong lồng ngực trái. Tụ máu sau xƣơng ức, k ch thƣớc (15x08)cm; tụ máu sau cơ thành bụng bên đƣờng nách k ch thƣớc (07x05)cm; rách cơ thành bụng bên trong k ch thƣớc (6,5x03)cm; máu không đồng trong khoang ngực trái khoảng 500ml; máu không đông trong bao tim khoảng 300ml; máu không đông ổ bụng khoảng 1000ml.
3. Phần kết luận:
Dấu hiệu ch nh qua giám định:
+ Thủng tim vùng thất phải, thủng gan;
+ Máu không đông trong khoang ngực trái khoảng 500ml;
+ Máu không đông trong bao tim khoảng 300ml;
+ Máu không đông ổ bụng khoảng 1000ml;
Cơ chế hình thành vết thƣơng:
+ Nạn nhân xây sát, rách da vùng đầu là do tác động với vật cứng có cạnh gây ra (nhƣ gỗ có cạnh, sắt có cạnh…);
+ Nạn nhân bị 03 vết thủng da, cơ vùng ngực, bụng, trong đó vết (01) gây thủng tim và vết (02) gây thủng gan mất nhiều máu dẫn đến chết. 03 vết thƣơng trên đƣợc hình thành theo cơ chế đâm.
Đặc điểm hung kh : 03 vết thƣơng trên ngƣời nạn nhân đƣợc tạo ra do vật sắc nhọn, có bản mỏng (nhƣ dao…).
Nguyên nhân tử vong: do tác động ngoại lực của vật sắc, nhọn vào vùng ngực, bụng gây ra đa chấn thƣơng, thủng tim, gan, chảy mất máu không hồi phục dẫn đến tử vong.
* Bản kết luận giám định pháp y về thƣơng t ch số 331 ngày 01/8/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Dƣơng, kết luận thƣơng t ch của ông Lê Minh H3:
Vết thƣơng 1/3 trên cánh tay trái k ch thƣớc (7,3x0,4)cm, sẹo lành.
Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng t ch gây nên hiện tại là 08% (theo bảng tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể ban hành kèm theo Thông tƣ số 20 ngày 12/6/2014 của Bộ y tế).
* Bản Kết luận giám định pháp y về thƣơng t ch số 333 ngày 06/8/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Dƣơng, kết luận thƣơng t ch của Nguyễn Hải H1:
Vết thƣơng đỉnh – chẩm trái k ch thƣớc (6x0,2)cm; vết thƣơng lóc da thái D trái k ch thƣớc (14x0,3)cm, sẹo lành;
Vết thƣơng vành tai trái k ch thƣớc (1,5x0,1)cm, sẹo lành;
Vết thƣơng mặt trƣớc trong cổ tay trái k ch thƣớc (10,5x2)cm, đứt gân gấp cổ tay trụ, đã khâu;
Vết thƣơng mu bàn tay trái k ch thƣớc (4x0,3)cm, sẹo lành.
Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng t ch gây nên hiện tại là 15% (theo bảng tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể ban hành kèm theo Thông tƣ số 20 ngày 12/6/2014 của Bộ Y tế).
Quá trình điều tra, ông Lê Minh H3 có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với ngƣời gây thƣơng t ch cho ông H3 nên ngày 20/3/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dƣơng đã ra Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 07 ngày 20/3/2020 về tội “Cố ý gây thƣơng t ch” quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, Cơ quan Cảnh sát điều tra chƣa xác định đƣợc ngƣời gây thƣơng t ch cho ông H3 là ai; thời hạn điều tra vụ án về tội Giết ngƣời đã hết nên ngày 13/5/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dƣơng Quyết định tách vụ án hình sự số 12, tách vụ án “Cố ý gây thƣơng t ch” đối với bị hại Lê Minh H3 đồng thời ban hành Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình số 21 ngày 13/5/2020 về tội Cố ý gây thƣơng t ch, quy định tại Điều 134 của Bộ luật hình sự; khi nào xác định đƣợc ngƣời gây thƣơng t ch cho ông H3, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dƣơng sẽ tiếp tục xử lý theo quy định.
Đối với thƣơng t ch của Nguyễn Hải H1, quá trình điều tra, xác định ngƣời gây thƣơng t ch cho H1 là ông Lê Minh H2. Tuy nhiên, ông H2 đã chết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dƣơng không khởi tố.
* Về trách nhiệm dân sự:
Đại diện bị hại bà Nguyễn Thị L1 (mẹ của bị hại H2) yêu cầu H, L, Th, H1, D và Ch bồi thƣờng chi ph mai táng, tiền bồi thƣờng tổn thất tinh thần và cấp dƣỡng cho bà L1 số tiền 285.000.000 (hai trăm tám mƣơi lăm triệu đồng).
Tại bản cáo trạng số: 69/CT-VKS.P2 ngày 15/7/2020, Viện trƣởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố các bị cáo Huỳnh Văn H, Võ Tấn L, Nguyễn Văn Th, Nguyễn Hải H1, Phạm Văn Ch và Nguyễn Minh D về tội “Giết ngƣời” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Huỳnh Văn H, Võ Tấn L, Nguyễn Văn Th, Nguyễn Hải H1, Phạm Văn Ch và Nguyễn Minh D về tội “Giết ngƣời” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự. Đánh giá t nh chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt:
Bị cáo Huỳnh Văn H với mức án từ 18 năm đến 19 năm tù.
Bị cáo Võ Tấn L với mức án từ 17 năm đến 18 năm tù.
Các bị cáo Nguyễn Văn Th, Nguyễn Hải H1 với mức án từ 16 năm đến 17 năm tù.
Các bị cáo Phạm Văn Ch và Nguyễn Minh D với mức án từ 15 năm đến 16 năm tù.
- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Huỳnh Văn H và Nguyễn Minh D:
Đối với bị cáo H: bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội trong suốt quá trình điều tra, tại phiên toà có đôi lúc bị cáo không H2 ý khai báo vòng vo nhƣng bị cáo cũng đã thừa nhận, vì vậy, thống nhất nội dung luận tội đối với bị cáo. Đề nghị xem xét tình tiết bị cáo thành khẩn, ăn năn và đã ra đầu thú sau khi phạm tội.
Đối với bị cáo D: cáo trạng truy tố bị cáo đồng phạm giết ngƣời là nặng vì bị cáo D dù có lời nói và hành vi ném mã tấu ra nhƣng hành vi của bị cáo không phải là hành vi phạm tội giết ngƣời, dù có hay không hành động của D thì các bị cáo khác cũng tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Về mặt giúp sức, bị cáo D có giúp sức về công cụ, vật chất và tinh thần hay không? Viện Kiểm sát kết luận D giúp sức về tội giết ngƣời là suy đoán chứ không khách quan. Kết luận điều tra cũng khẳng định việc vứt bao mã tấu là ở trong nhà, không phải ở ngoài. Không ai sử dụng hung kh do D đem ra để đánh nhau cả. Khi D đem bao mã tấu ném ra thì các bị cáo khác đã ra ngoài đƣờng đánh nhau. Vì vậy, việc kết luận bị cáo D đồng phạm giết ngƣời là khiên cƣỡng. Bên cạnh đó, trong bối cảnh đánh nhau hỗn loạn, các bị cáo cũng khẳng định không nghe D nói gì cả, vì vậy, việc kết luận lời nói của D gây k ch động các bị cáo khác là không phù hợp. Từ những phân t ch trên, hành vi của D không giúp sức về tinh thần cũng nhƣ vật chất, không thể cấu thành tội giết ngƣời với vai trò đồng phạm đƣợc. Bản thân D không tham gia đánh ai mà còn can ngăn các bị cáo khác đánh nhau. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tuyên bị cáo không phạm tội.
- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Nguyễn Hải H1 và Phạm Văn Ch:
Đối với bị cáo Ch: Không tranh luận về tội danh với Viện Kiểm sát về tội danh của bị cáo Ch vì bị cáo không thừa nhận hành vi của mình. Hành vi của bị cáo khi dùng rựa chuẩn bị đánh nhau thì đã đƣợc can ngăn nên bị cáo không tham gia đánh nhau, bị cáo không thể nào biết hậu quả việc đánh nhau sẽ ra sao. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc.
Đối với bị cáo H1: Bị cáo H1 đã khai tại phiên toà không đánh bị hại, điều này cũng phù hợp với tình tiết vụ án vì khi điều tra không xác định làm rõ H1 đánh bị hại ở đâu, đánh vào vị tr nào, đánh bao nhiêu cái. Bên cạnh đó, H1 chƣa có tiền án tiền sự, có con nhỏ. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc.
Về trách nhiệm dân sự:
Đề nghị phân định rõ trách nhiệm mỗi bị cáo phải chịu bao nhiêu tiền để thuận L cho các bị cáo thi hành án sau này.
- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Võ Tấn L và Nguyễn Văn Th:
Thống nhất với tội danh do Viện Kiểm sát truy tố. Th và L xuất thân gia đình nghèo, học vấn thấp, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nguyên nhân dẫn đến án mạng cũng có một phần lỗi từ ph a bị hại, trong hoàn cảnh căng thẳng nhƣ vậy, mâu thuẫn đã gần nhƣ hoà giải đƣợc rồi thì bị hại đã có lời nói k ch động dẫn đến đánh nhau gây hậu quả chết ngƣời.
- Các bị cáo đồng ý với lời bào chữa của Luật sƣ và không bổ sung gì thêm.
Trong lời nói sau cùng các bị cáo gửi lời xin lỗi đến gia đình ngƣời bị hại, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo có cơ hội làm lại từ đầu, sớm đƣợc trở về để chăm lo cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về tố tụng: các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an tỉnh Bình Dƣơng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dƣơng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Luật sƣ bào chữa cho bị cáo, bị cáo, bị hại không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình điều tra, các bị cáo Huỳnh Văn H, Võ Tấn L, Nguyễn Văn Th, Nguyễn Hải H1, Phạm Văn Ch và Nguyễn Minh D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Trong phần xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Văn H thành khẩn khai nhận tội, nhƣng chỉ thừa nhận đâm 02 nhát, không phải 03 nhát dao nhƣ nội dung cáo trạng đã nêu, các bị cáo Võ Tấn L, Nguyễn Văn Th, Nguyễn Hải H1, Phạm Văn Ch và Nguyễn Minh D không thừa nhận hành vi phạm tội giết ngƣời với vai trò đồng phạm, các bị cáo cho rằng chỉ dùng tay đánh bị hại H2 và không gây ra cái chết cho bị hại. Tuy nhiên, về trách nhiệm bồi thƣờng dân sự, các bị cáo đồng ý liên đới chịu trách nhiệm bồi thƣờng theo yêu cầu của đại diện hợp pháp của bị hại. Trƣớc khi vụ án đƣa ra xét xử và trong thời gian kéo dài nghị án, các bị cáo D, H1, Ch đã tác động gia đình nộp khắc phục một phần hậu quả (mỗi bị cáo 10.000.000 đồng), trong lời nói sau cùng các bị cáo trình bày r ất ăn năn, hối hận, mong ph a gia đình bị hại tha thứ và xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết luận giám định, cơ chế hình thành vết thƣơng, nguyên nhân dẫn đến bị hại tử vong, biên bản hiện trƣờng xảy ra vụ án, biên bản thực nghiệm điều tra, lời khai của các bị cáo, ngƣời làm chứng, có căn cứ để xác định kể từ khi các bị cáo D, L và ngƣời làm chứng Lê Minh H3 thƣơng lƣợng hòa giải mâu thuẫn thì bị hại H2 đã có lời nói thách thức “đã hẹn rồi thì chơi đi chứ hòa giải gì nữa” thì bị cáo L nói “giờ mày muốn chơi phải không” từ đó xô xát giữa hai bên xảy ra, tiếp theo đó, D mang số mã tấu từ trong phòng ngủ ném ra ngoài và nói “tụi bây th ch chém nhau phải không? Nè, chém đi” (BL64), chứng tỏ các bị cáo đã tiếp nhận ý ch với nhau, kể từ đó xô xát giữa hai bên trở nên quyết liệt hơn và diễn biến kéo dài từ trong quán ra đến đƣờng đất, đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 19 giờ ngày 23/5/2019, tại nhà Nguyễn Minh D ở ấp B, xã TA, huyện D, tỉnh Bình Dƣơng. Võ Tấn L, Huỳnh Văn H, Nguyễn Văn Th, Nguyễn Hải H1, Phạm Văn Ch và Nguyễn Minh D hẹn gặp ông Lê Minh H3, Lê Minh H2 để hòa giải mâu thuẫn giữa L và ông H3. Trong khi hòa giải thì ông H2 bất ngờ phản ứng, thách thức đánh nhau với L nên Ch dùng rựa chém H2 nhƣng đƣợc bà H3 và bà Ch can ngăn nên Ch không thực hiện đƣợc; L, Th, H1 dùng tay chân đánh H2 còn D ném 05 mã tấu trƣớc nhà và có lời nói k ch động để các bị cáo khác tấn công ngƣời bị hại H2; H trực tiếp dùng dao Thái Lan đâm 03 nhát trúng vào vùng ngực, bụng của ông H2 dẫn đến tử vong.
Hành vi của các bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến t nh mạng của bị hại, gây tâm lý hoang mang cho ngƣời dân sinh sống tại khu vực, ảnh hƣ ởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phƣơng. Về nhận thức, các bị cáo biết rõ hành vi nhiều ngƣời dùng tay, chân tấn công đánh vào ngƣời và dùng dao là hung kh nguy hiểm đâm vào vùng ngực, bụng của bị hại sẽ tƣớc đoạt t nh mạng của bị hại và trái pháp luật, thể hiện t nh côn đồ, ý thức xem thƣờng pháp luật và bất chấp hậu quả. Do đó, cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dƣơng truy tố các bị cáo Huỳnh Văn H, Võ Tấn L, Nguyễn Văn Th, Nguyễn Hải H1, Phạm Văn Ch và Nguyễn Minh D về tội “Giết ngƣời” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Bình Dƣơng, tình trạng ngƣời dân giải quyết mâu thuẫn bằng hung kh ngày càng gia tăng, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Căn cứ vào t nh chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, cần áp dụng mức hình phạt tƣơng xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục đối với các bị cáo cũng nhƣ phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét hành vi, vai trò của các bị cáo: trong vụ án này, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm nhƣng là đồng phạm giản đơn.
Bị cáo Huỳnh Văn H, là ngƣời trực tiếp dùng dao đâm vào ngƣời bị hại gây ra cái chết của bị hại H2, nên phải chịu mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác.
Bị cáo Võ Tấn L là ngƣời có lời nói thách thức, k ch động và cùng với các bị cáo tấn công bị hại và tiếp tục đuổi đánh cho đến khi ngƣời bị hại gục xuống ở khu vực vƣờn chuối thì mới dừng lại. Do đó, bị cáo L phải chịu mức án cao hơn các bị cáo Nguyễn Văn Th, Nguyễn Hải H1, Phạm Văn Ch và Nguyễn Minh D.
Bị cáo Nguyễn Văn Th, Nguyễn Hải H1 là ngƣời trực tiếp dùng tay đánh bị hại, sau đó, bị cáo Th nhặt đoạn kim loại hình hộp cùng với bị cáo H và H1 tấn công bị hại ngay sau khi bị hại bị H đâm nhiều nhát, trong khi tấn công bị hại, bị cáo H1 bị bị hại dùng dao gây thƣơng t ch ở vùng thái D, vùng cổ tay tỷ lệ thƣơng t ch là 15% nên bị cáo Th và bị cáo H1 phải chịu mức án cao hơn bị cáo Ch và bị cáo D.
Bị cáo Phạm Văn Ch có hành vi kích động, dùng rựa tấn công trƣớc là nguyên nhân ch nh tác động đến các bị cáo khác cùng nhau tấn công ngƣời bị hại và ngƣời làm chứng ông H3, việc Ch không chém đƣợc H2 là do có sự ngăn cản của bà H3, bà Ch nên bị cáo không thực hiện đƣợc. Bị cáo D tuy không trực tiếp đánh bị hại nhƣng ch nh D là ngƣời cung cấp công cụ gây án và k ch động để các bị cáo khác tiếp nhận ý ch thực hiện hành vi dẫn bị hại tử vong. Do đó, bị cáo Ch phải chịu mức án cao hơn bị cáo D.
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: bị cáo H1 có nhân thân xấu đã bị Tòa án huyện D, tỉnh BÌNH DƢƠNG xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thƣơng t ch” (phạm tội trƣớc vụ án này).
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Nguyễn Văn Th có 01 tiền án thuộc trƣờng hợp tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo tthành khẩn khai báo nhƣng còn hạn chế, các bị cáo ăn năn hối cải (chấp nhận bồi thƣờng theo yêu cầu của đại diện ngƣời bị hại số tiền 285.000.000 đồng), các bị cáo D, H1, Ch đã tác động gia đình bồi thƣờng khắc phục một phần hậu quả (mỗi bị cáo 10.000.000 đồng); bị cáo H sau khi gây án đã ra đầu thú; bị cáo Ch có ông ngoại và bà ngoại là ngƣời có công với cách mạng đƣợc Nhà nƣớc tặng thƣởng Huân chƣơng kháng Ch hạng Nhất, bị hại cũng có một phần lỗi là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự:
Đại diện bị hại bà Nguyễn Thị L1, bà Nguyễn Hƣơng L (là mẹ và vợ của bị hại H2) yêu cầu các bị cáo liên đới bồi thƣờng chi ph mai táng, tiền bồi thƣờng tổn thất tinh thần và cấp dƣỡng cho bà L1 với tổng số tiền 285.000.000 (hai trăm tám mƣơi lăm triệu) đồng, các bị cáo đồng ý bồi thƣờng theo yêu cầu của gia đình bị hại. Xét thấy, đây là ý ch tự nguyện, thỏa thuận phù hợp với pháp luật Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về xử lý vật chứng: 01 thanh kim loại k ch thƣớc (80x3x3)cm; 01 chiếc bao tay bên phải màu đen; 01 chiếc áo bị cháy nhiệt hóa; 01 đôi dép hiệu PUMA màu đỏ; 01 đôi dép hiệu Tiến Đạt màu nâu đen; 01 chiếc mũ lƣỡi trai màu đen; 01 chiếc áo sơ mi dài tay màu vàng; 01 thanh kim loại k ch thƣớc (32x03x06)cm; 01 đôi dép hiệu Adidas màu xám; 01 dây chuyền bằng dây dù màu đen có mặt đá hình phật màu xanh; 01 chuỗi hạt đeo tay bằng đá; 01 dao bằng kim loại màu trắng dài 15,5cm, lƣỡi dao dài 2,5cm cong thành hình cái móc; 01 áo thun ngắn tay màu xanh; 01 chiếc mũ lƣỡi trai màu đen đỉnh mũ có vết rách; 01 dao và một mảnh ốp cán dao bằng nhựa màu đen;
01 dao tự chế dài 89cm cán bằng gỗ tròn dài 46cm lƣỡi bằng kim loại màu đen dài 43cm; 02 dao tự chế bằng kim loại màu trắng dài 64cm cán dao dài 21cm lƣỡi dao dài 43cm; 01 dao tự chế dài 72cm mũi nhọn lƣỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 50cm cán dao đƣợc quấn dây dù dài 22cm; 01 dao dài 51cm lƣỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 37cm trên lƣỡi dao có hình đầu trâu với dòng chữ OXHEAD cán dao bằng gỗ màu nâu dài 14cm và một cây rựa có lƣỡi bằng sắt dài 25cm, cán bằng gỗ dài 60cm, là vật chứng, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với thƣơng t ch của Nguyễn Hải H1 do bị hại Lê Minh H2 gây ra, hiện hay H2 đã chết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dƣơng không khởi tố là phù hợp.
Đối với thƣơng t ch của ông Lê Minh H3, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dƣơng quyết định tách vụ án và quyết định tạm đình chỉ điều tra, khi nào xác định đƣợc ngƣời gây thƣơng t ch cho ông H3 sẽ tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định là phù hợp.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dƣơng về phần hình phạt đối với các bị cáo là nặng nên Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt thấp hơn mức hình phạt mà Viện Kiểm sát đề nghị.
Ý kiến của ngƣời bào chữa cho các bị cáo chỉ có căn cứ chấp nhận một phần.
Về án ph : các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Văn H, Võ Tấn L, Nguyễn Văn Th, Nguyễn Hải H1, Phạm Văn Ch và Nguyễn Minh D phạm tội “Giết ngƣời”.
Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự,
Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn H 18 (mƣời tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày 25/5/2019.
Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự,
Xử phạt bị cáo Võ Tấn L 15 (mƣời lăm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày 24/5/2019.
Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th 15 (mƣời lăm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày 24/5/2019.
Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 56, Điều 58 của Bộ luật Hình sự,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải H1 14 (mƣời bốn) năm tù. Buộc bị cáo Nguyễn Hải H1 phải chấp hành hình phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2019/HS-ST ngày 01/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dƣơng. Tổng hợp hình phạt tù của hai bản án, buộc bị cáo Nguyễn Hải H1 phải chấp hành hình phạt chung là 16 (mƣời sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày 14/8/2019.
Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự,
Xử phạt bị cáo Phạm Văn Ch 14 (mƣời bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày 14/8/2019.
Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh D 13 (mƣời ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù t nh từ ngày 24/5/2019.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Các bị cáo Huỳnh Văn H, Võ Tấn L, Nguyễn Văn Th, Nguyễn Hải H1, Phạm Văn Ch và Nguyễn Minh D có trách nhiệm liên đới bồi thƣờng cho những ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại gồm Nguyễn Thị L1, bà Nguyễn Hƣơng L (là mẹ và vợ của bị hại H2) chi ph mai táng, tiền bồi thƣờng tổn thất tinh thần và cấp dƣỡng cho bà L1 với tổng số tiền 285.000.000 (hai trăm tám mƣơi lăm triệu) đồng. Đƣợc khấu số tiền 30.000.000 (ba mƣơi triệu) đồng mà các bị cáo D, H1, Ch đã tác động gia đình bồi thƣờng khắc phục một phần hậu quả (mỗi bị cáo 10.000.000 đồng) nộp tại Cục Thi hành dân sự tỉnh Bình Dƣơng theo các Biên lai thu tiền số AA/2016/0002270 ngày 12/10/2020, Biên lai thu tiền số AA/2016/0002269 ngày 12/10/2020, Biên lai thu tiền số AA/2016/0002271 ngày 20/10/2020. Các bị cáo còn phải tiếp tục bồi thƣờng số tiền 255.000.000 (hai trăm năm mƣơi lăm triệu) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trƣờng hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngƣời đƣợc thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho ngƣời đƣợc thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
3. Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 thanh kim loại k ch thƣớc (80x03x03)cm; 01 chiếc bao tay bên phải màu đen; 01 chiếc áo bị cháy nhiệt hóa; 01 đôi dép hiệu PUMA màu đỏ; 01 đôi dép hiệu Tiến Đạt màu nâu đen; 01 chiếc mũ lƣỡi trai màu đen; 01 chiếc áo sơ mi dài tay màu vàng; 01 thanh kim loại k ch thƣớc (32x03x06)cm; 01 đôi dép hiệu Adidas màu xám; 01 dây chuyền bằng dây dù màu đen có mặt đá hình phật màu xanh; 01 chuỗi hạt đeo tay bằng đá; 01 dao bằng kim loại màu trắng dài 15,5cm, lƣỡi dao dài 2,5cm cong thành hình cái móc; 01 áo thun ngắn tay màu xanh; 01 chiếc mũ lƣỡi trai màu đen đỉnh mũ có vết rách; 01 dao và một mảnh ốp cán dao bằng nhựa màu đen;
01 dao tự chế dài 89cm cán bằng gỗ tròn dài 46cm lƣỡi bằng kim loại màu đen dài 43cm; 02 dao tự chế bằng kim loại màu trắng dài 64cm cán dao dài 21cm lƣỡi dao dài 43cm; 01 dao tự chế dài 72cm mũi nhọn lƣỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 50cm cán dao đƣợc quấn dây dù dài 22cm; 01 dao dài 51cm lƣỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 37cm trên lƣỡi dao có hình đầu trâu với dòng chữ OXHEAD cán dao bằng gỗ màu nâu dài 14cm và một cây rựa có lƣỡi bằng sắt dài 25cm, cán bằng gỗ dài 60cm. (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/7/2020 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dƣơng).
4. Án ph sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án: các bị cáo Huỳnh Văn H, Võ Tấn L, Nguyễn Văn Th, Nguyễn Hải H1, Phạm Văn Ch và Nguyễn Minh D mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án ph hình sự sơ thẩm và liên đới chịu số tiền 12.750.000 (mƣời hai triệu bảy trăm năm mƣơi nghìn) đồng án ph dân sự sơ thẩm.
Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại đƣợc quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao (Vụ GĐKT 1); 1 - VKSND cấp cao tại TP.HCM; 1 - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; 1 - Cục THADS tỉnh Bình Dƣơng; 1 - Cơ quan điều tra - Công an tỉnh Bình Dƣơng; 1 - PV06 – Công an tỉnh Bình Dƣơng. 1 - Ngƣời tham gia tố tụng; 10 - Tổ hành ch nh Tƣ pháp; 2 - Sở Tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; 1 - Lƣu hồ sơ vụ án. 1 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trƣơng Văn Lộc |