- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn Th-L"
- Tòa quyết gì? Căn cứ Công văn 253/TANDTC-PC ngày 26 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân tối cao;
- Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 109/2020/HNGĐ-ST Ngày 13-7-2020 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Vân Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Kim San
Ông Trần Đăng Khoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh là Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 50/2020/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2020 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 127/2020/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Th; ĐKHKTT: Thôn 3 My S, xã Ngũ L, huyện Thủy Ng, thành phố Hải Phòng; tạm trú: Thôn B, xã Phục L, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Hoàng Thế L; ĐKHKTT: Thôn 3 My S, xã Ngũ L, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; hiện cư trú tại: Hàn Quốc, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn là Chị Phạm Thị Th trình bày:
Chị và anh Hoàng Thế L kết hôn trên cơ sở tự nguyện có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ngũ Lão, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng vào ngày 19 tháng 5 năm 2014. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2017 anh Hoàng Thế L đi du học bên Hàn Quốc. Thời gian đầu anh Lâm vẫn liên lạc về sau do khoảng cách địa lý vợ chồng xa nhau nên bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng trong quan điểm sống, cả hai đều không tìm được tiếng nói chung, không tin tưởng lẫn nhau về vấn đề tình cảm. Gia đình hai bên cũng như bản thân chị và anh Lâm nhiều lần hòa giải để khắc phục tình cảm vợ chồng nhưng đều không có kết quả, chị vẫn thường xuyên liên lạc với anh Lâm nhưng địa chỉ của anh Lâm ở tại đâu bên Hàn Quốc thì chị không nắm bắt được, đã nhiều lần chị trao đổi yêu cầu anh Lâm cung cấp địa chỉ hiện nay anh đang cư trú tại Hàn Quốc tuy nhiên anh Lâm vẫn không cung cấp. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, khả năng vợ chồng đoàn tụ là không thể chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Thế L để cả hai ổn định cuộc sống.
Về nuôi con chung: Chị Phạm Thị Th và anh Hoàng Thế L có một con chung là cháu Hoàng Phạm Bình M, sinh ngày 23-10-2014. Khi ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi cháu Hoàng Phạm Bình Minh cho đến khi cháu trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con chị không yêu cầu anh Hoàng Thế L phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Quá trình chung sống giữa chị và anh Hoàng Thế L không có tài sản chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là a nh Hoàng Thế L hiện đang ở nước ngoài: Sau khi thụ lý, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, đồng thời cũng đã gửi các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Hoàng Thế L thông qua người thân của anh tại Việt Nam.
Do anh Hoàng Thế L đang ở nước ngoài đồng thời chị Thùy không yêu cầu hòa giải nên căn cứ khoản 2, khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án.
Tại phiên tòa: Chị Phạm Thị Th và anh Hoàng Thế L đều vắng mặt. Chị Thùy có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tại phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm, Thư ký đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý cho đến phiên tòa. Anh Hoàng Thế L đã được người thân trong gia đình thông báo các văn bản tố tụng của Tòa án, tuy nhiên đến ngày mở phiên tòa lần thứ hai anh Hoàng Thế L vắng mặt và không có ý kiến gì. Chị Phạm Thị Th vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vâ ̣y, căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự , Công văn 253/TANDTC-PC ngày 26 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân tối cao ; Tòa án xét xử vắng mặt Chị Phạm Thị Th và anh Hoàng Thế L là đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ có đủ cơ sở kết luận cuộc sống vợ chồng của Chị Phạm Thị Th và anh Hoàng Thế L không có hạnh phúc, hiê ̣n mỗi ngườ i mô ̣t nướ c không có khả năng đoàn tu ̣, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Chị Phạm Thị Th. Về con chung: Hiê ̣n anh Hoàng Thế L đang ở nước ngoài, chị Phạm Thị Th có công việc, thu nhập ổn định mặt khác cháu Hoàng Phạm Bình M còn nhỏ cần có sự chăm sóc của mẹ vì vậynguyện vọng của chịPhạm Thị Thùy được nuôi cháu Hoàng Phạm Bình Minh, sinh ngày 23-10-2014 là phù hợp với pháp luật cũng như thực tế. Việc cấp dưỡng nuôi con Chị Phạm Thị Th tự nguyê ̣n có trách nhiê ̣m vớ i con không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không phải xem xét. Về tài sản chung, Chị Phạm Thị Th không yêu cầu nên Tòa án không phải giải quyết. Chị Phạm Thị Th phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, quan điểm của Đa ̣i diê ̣n Viện Kiểm sát tại phiên tòa, xét thấy:
- Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Phạm Thị Th và anh Hoàng Thế L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân xã Ngũ Lão, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng vào ngày 19 tháng 5 năm 2014, theo quy định tại Điều 9, Điều 11 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đây là hôn nhân hợp pháp. Bị đơn hiện đang sinh sống , lao đô ̣ng ở nước ngoài, theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Chị Phạm Thị Th đã nhận tống đạt hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Hoàng Thế L hiê ̣n đang lao động, sinh sống ta ̣i Hàn Quốc, chị Phạm Thị Th không cung cấp được đi ̣a chi cu ̣̉ thể của anh Hoàng Thế L, gia đinh anh Hoàng Thế L xác nhận anh Lâm đang ở Hàn Quốc
̀ vẫn thườ ng xuyên liên la ̣c vớ i gia đinh để thăm hỏi bố me ̣ và con anh tuy nhiên gia
̀
đinh không biết đi ̣a chi cu ̣̉ thể của anh . Tòa án đã tiến hành tống đạt văn bản tố ̀ tụng của Tòa án cho anh Hoàng Thế L thông qua gia đinh anh , gia đinh anh cũng
̀
̀ đa cam kết vã
̀ có phản hồi đa thông bã
́o cho anh các vă n bản tố tu ̣ng của tòa án. Vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Công văn 253/TANDTC-PC ngày 26 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân tối cao Toà án tiến hành xét xử vắng mặt anh Hoàng Thế L và Chị Phạm Thị Th.
Về hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của đương sự, tài liệu do các đương sự cung cấp phù hợp với ý kiến của đại diện gia đình, có đủ cơ sở xác định cuộc sống chung giữa Chị Phạm Thị Th và anh Hoàng Thế L thời gian đầu vẫn hạnh phúc. Đến năm 2017 anh L đi du học tại Hàn Quốc, thời gian đầu vợ chồng vẫn liên lạc về sau do khoảng cách địa lý vợ chồng xa nhau nên bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng trong quan điểm sống, cả hai đều không tìm được tiếng nói chung, không tin tưởng lẫn nhau về vấn đề tình cảm. Gia đình hai bên cũng như bản thân chị Th và anh L nhiều lần hòa giải để khắc phục tình cảm vợ chồng nhưng đều không có kết quả. Như vâ ̣y, quan hệ hôn nhân giữa Chị Phạm Thị Th và anh Hoàng Thế L đã thực sự không còn yêu thương nhau , không cùng nhau xây dựng cuô ̣c sống gia đinh ha ̣nh phúc , cuộc sống chung không thể kéo dài,
̀ mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được , cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhâ ̣n đề nghị xin ly hôn của Chị Phạm Thị Th.
Về nuôi con: Chị Phạm Thị Th và anh Hoàng Thế L có một con chung là cháu Hoàng Phạm Bình M, sinh ngày 23-10-2014. Khi ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi cháu Hoàng Phạm Bình M cho đến khi cháu trưởng thành. Xét, hiện anh Hoàng Thế L đang ở nướ c ngoài, Chị Phạm Thị Th có công việc, thu nhập ổn định do vậy việc Chị Phạm Thị Th nuôi cháu Hoàng Phạm Bình M đảm bảo quyền lợi về mo ̣i mă ̣t cho con. Do vậy cần áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận đề nghi ̣ về nuôi con của Chị Phạm Thị Th. Viê ̣c cấp dưỡng nuôi con, chị Phạm Thị Th tự nguyê ̣n có trách n hiê ̣m vớ i con và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về chia tài sản: Theo lờ i khai của Chị Phạm Thị Th trình bày quá trình chung sống giữa chị và anh Hoàng Thế L không có tài sản chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Phạm Thị Th là nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Về quyền kháng cáo của các đương sự: Chị Phạm Thị Th và anh Hoàng Thế L được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2, khoản 4 Điều 207; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Công văn 253/TANDTC-PC ngày 26 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân tối cao;
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Phạm Thị Th.
1. Về hôn nhân: Cho Chị Phạm Thị Th được ly hôn với anh Hoàng Thế L.
2. Về nuôi con: Giao cháu Hoàng Phạm Bình M, sinh ngày 23-10-2014 cho Chị Phạm Thị Th được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Phạm Thị Th tự nguyê ̣n se trã ́ch nhiê ̣m vớ i con không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
3. Về chia tài sản: Chị Phạm Thị Th không yêu cầu giải quyết về vấn đề tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí:
Chị Phạm Thị Th phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghin đồng ) án phí ly
̀ hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền ta ̣m ứng án phí dân sự sơ thẩm đ ã nộp là 300.000 đồng theo B iên lai số 0008512 ngày 04 tháng 3 năm 2020 tại Cu ̣c Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng; Chị Phạm Thị Th đã nộp đủ.
5. Về quyền kháng cáo của các đương sự:
Chị Phạm Thị Th được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Anh Hoàng Thế L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - VKSND TP Hải Phòng; - Cục THADS TP Hải Phòng; - UBND xã Ngũ Lão, huyện Thủy Nguyên, TP Hải Phòng. - Đương sự (để thi hành); - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Đỗ Xuân Quyết Trần Đăng Khoa | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Vân Thúy THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Vân Thúy |