vanban.org

Bản án 109/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị M và anh Phạm Quang T.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị M phải nộp án phí ly hôn là 300.000 đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu số 0001730 ngày 05/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường. Về quyền kháng cáo: chị Nguyễn Thị M và anh Phạm Quang T có quyền kháng cáo tron… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị M và anh Phạm Quang T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN TRƯỜNG
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:109/2020/HNGĐ - ST
Ngày: 17 - 9 - 2020
V/v: Ly hôn giữa
chị M và anh T.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Quỳnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Trang;

Ông Trần Đình Phấn.

- Thư ký phiên toà: bà Trần Thị Kim Cúc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường tham gia phiên toà: Bà Mai Thị Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 40/2020/TLST – HNGĐ, ngày 05 tháng 5 năm 2020 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2020/QĐXXST – HNGĐ, ngày 24 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1994; địa chỉ: Xóm 5, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định.

Bị đơn: Anh Phạm Quang T, sinh năm 1989; địa chỉ: Xóm 5, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam T, phường Đ, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

( Chị M, anh T vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 03 tháng 3 năm 2020 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị M trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Phạm Quang T kết hôn tự nguyện và đăng ký tại UBND xã X ngày 10/12/2018. Anh chị chung sống với nhau chưa tổ chức lễ cưới được mấy tháng thì thấy bất đồng trong phong tục tập quán địa phương và dân tộc của mỗi người nên chị không còn tình cảm với anh và sống ly thân. Chị xác định tình cảm vợ chồng đã hết nên xin ly hôn anh T.

Về con chung: Vợ chồng không có con chung, không thai nghén gì với nhau

Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị đề nghị không hòa giải và xin xét xử vắng mặt chị

Anh T hiện đang chấp hành án tại trại giam T nhưng có lời khai xác nhận có đăng ký kết hôn với chị M tại UBND xã X ngày 10/12/2018 nhưng chưa tổ chức lễ cưới thì chị M bỏ đi bởi không hòa đồng được phong tục tập quán địa phương anh. Nay chị M xin ly hôn anh nhất trí, Anh chị chưa có con chung, thai nghén với nhau. Không có tài sản chung, riêng, không nợ nần gì ai. Anh xin được giải quyết, xét xử vắng mặt anh vì anh đang chấp hành án tại trại giam T, anh giữ nguyên quan điểm như bản tự khai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tại phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với các đương sự chấp hành đúng pháp luật tố tụng. Về nội dung: Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị M đối với anh Phạm Quang T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị M và anh T đều đề nghị xét xử vắng mặt. Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định khoản 1 Điều 228; Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M và anh Phạm Quang T kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã X nên là hôn nhân hợp pháp. Anh chị chưa tổ chức lễ cưới thì đã bất đồng phong tục tập quán sống của địa phương sau đó chị bỏ về nhà chị và ly thân , anh thì đi chấp hành án do phạm tội. Vì thế anh chị không có cơ hội hàn gắn tình cảm. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn anh T. Xét nguyện vọng của chị là chính đáng nên chấp nhận cho chị ly hôn anh T.

. Về con chung: các đương sự không có con chung, không thai nghén gì với nhau.

Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: chị Nguyễn Thị M phải nộp án phí ly hôn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 56Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý về sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị M và anh Phạm Quang T.

2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị M phải nộp án phí ly hôn là 300.000 đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu số 0001730 ngày 05/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường.

3. Về quyền kháng cáo: chị Nguyễn Thị M và anh Phạm Quang T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ