vanban.org

Bản án 109/2020/DS-PT — Dân sự

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 28/08/2020 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/08/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Bà Vi Thị T TH Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ dân sự trả tiền voi Vợ chồng ông Hoàng Thái Â, Bà Phan Thị T"
  • Căn cứ chính? Quyết định số 326/2014/QĐ-UBND Về việc sửa đổi, bổ sung Quy…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 109/2020/DS-PT
Ngày 28 – 8 – 2020
V/v yêu cầu thực hiện nghĩa vụ
Dân sự trả tiền.

NNHHÂÂNN DDAANNHH

NNƯƯỚỚCC CCỘỘNNGG HHÒÒAA XXÃÃ HHỘỘII CCHHỦỦ NNGGHHĨĨAA VVIIỆỆTT NNAAMM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Hữu Nhân

Các Thẩm phán:

Ông Huỳnh Châu Thạch

Ông Nguyễn Văn Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạ Phư c Minh Phong – Thư T a án nhân

dân t nh Lâ Đ ng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:

Bà Đỗ Thị Thúy - Kiể sát viên.

Ngày 28 tháng 8 nă 2020, tại Trụ sở T a án nhân dân t nh Lâ Đ ng xét

xử phúc thẩ công hai vụ án thụ l số: 34/2019/TLPT-DS ngày 22 tháng 02 nă 2019 về việc: “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ dân sự trả tiền”.

Do Bản án Dân sự sơ thẩ số: 02/2019/DS-ST ngày 08/01/2019 của T a

án nhân dân thành phố Đà Lạt bị háng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2019/QĐ-PT ngày 04/3/2019;

Thông báo về việc ở phiên t a xét xử phúc thẩ vụ án dân sự số: 183/TB-TA ngày 03/4/2019; Thông báo về việc ở phiên t a xét xử phúc thẩ vụ án dân sự số: 174/TB-TA ngày 09/4/2019; Thông báo về việc ở phiên t a xét xử phúc thẩ vụ án dân sự số: 222/TB-TA ngày 16/4/2019; Thông báo về việc ở phiên t a xét xử phúc thẩ vụ án dân sự số: 611/TB-TA ngày 16/8/2020 của T a án nhân dân t nh Lâ Đ ng giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Vi Thị Thu Thúy, sinh nă : 1975.

Địa ch : Số 19/6 thôn An Hiệp, xã Liên Hiệp, huyện Đức Trọng, t nh Lâ

Đ ng.

- Bị đơn: Vợ ch ng ông Hoàng Thái Ân, sinh nă : 1976.

Bà Phan Thị Thu, sinh nă : 1979.

Địa ch : Số 16/1 Nguyễn Thị Định, Phường 5, thành phố Đà Lạt.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Thu: Ông Hoàng Thái Ân, sinh nă :

1976.

Địa ch : Số 16/1 Nguyễn Thị Định, Phường 5, thành phố Đà Lạt.

(Văn bản ủy quyền lập ngày 23/10/2018).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Nguyễn Phương

Đại Nghĩa là luật sư của Văn ph ng luật sư Nguyễn Phương Đại Nghĩa (địa ch : Số A11 Trần Lê ( ặt sau), Phường 4, thành phố Đà Lạt) thuộc Đoàn luật sư t nh Lâ Đ ng.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Bà Hoàng Thị Ki Tuyến, sinh nă : 1979.

Địa ch : Số 77 đường Đông Tĩnh, Phường 8, thành phố Đà Lạt.

Địa ch liên hệ: Lô 184, hu quy hoạch dân cư Phan Đình Phùng – Hai Bà

Trưng, Phường 2, thành phố Đà Lạt.

- Người kháng cáo: Bà Vi Thị Thu Thúy - Nguyên đơn; vợ ch ng bà Phan

Thị Thu, ông Hoàng Thái Ân – Bị đơn; bà Hoàng Thị Ki Tuyến – Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

(Bà Thúy, ông Ân, bà Tuyến, Luật sư Nghĩa có ặt).

NỘI D NG V ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/10/2018 và lời trình bày của nguyên đơn bà

Vi Thị Thu Thúy thì:

Từ nă 2015, giữa bà Thúy và vợ ch ng bà Phan Thị Thu và ông Hoàng

Thái Ân có quan hệ ua bán, là ăn v i nhau. Vợ ch ng bà Thu, ông Ân có cơ sở giết ổ lợn tại thành phố Đà Lạt nên bà là người gi i thiệu cho vợ ch ng bà Thu, ông Ân đi ua lợn của các hộ dân tại huyện Đức Trọng. Khi được gi i thiệu thì vợ ch ng bà Thu, ông Ân trực tiếp đến các hộ dân để bắt lợn về giết ổ c n bà là người đứng ra chịu trách nhiệ trả tiền cho các hộ dân và hưởng hoa h ng. Quá trình là ăn v i nhau trong thời gian dài có hoản vợ ch ng bà Thu, ông Ân trả cho bà và cũng có hoản vợ ch ng bà Thu, ông Ân c n nợ lại, và hai bên tiến hành quyết toán cụ thể như sau:

Ngày 23/3/2017, bà Thu có xác nhận nợ là 3.391.191.000đ (có chữ xác

nhận của bà Thu trong sổ sách). Ngày 07/6/2017, hai vợ ch ng bà Thu, ông Ân có xác nhận nợ v i bà số tiền 2.706.847.000 đ ng (có chữ xác nhận của hai vợ ch ng).

Tuy nhiên, đến ngày 07/7/2016 vợ ch ng bà Thu, ông Ân hông trả nợ

nên bà đã yêu cầu vợ ch ng bà Thu, ông Ân viết giấy nhận nợ v i số tiền 3.381.190.000 đ ng. Nay bà hởi iện yêu cầu vợ ch ng bà Thu, ông Ân phải trả số tiền nợ trong việc ua bán lợn do vợ ch ng bà Thu, ông Ân đã xác nhận là 6.088.017.000 đ ng và lãi suất theo quy định. Sau hi xác nhận nợ bà Thu, ông Ân đã gởi trả cho bà 300.000.000 đ ng.

Theo lời trình bày của bị đơn ông Hoàng Thái Ân đồng thời là người là

đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Phan Thị Thu thì:

Vợ ch ng ông có là ăn, ua bán lợn theo như bà Thúy đã trình bày là

đúng. Về việc bà Thúy yêu cầu vợ ch ng ông trả 6.088.017.000 đ ng và lãi suất theo quy định thì ông hông đ ng vì lần cuối cùng chốt nợ là ngày 07/6/2017 v i số tiền 3.381.190.000 đ ng, số tiền này được chốt và xác nhận trong giấy ượn tiền ngày 07/6/2017.

Đối v i 02 lần chốt nợ trong sổ ghi nợ ua lợn ghi hai lần vào ngày

23/3/2017 v i số tiền 3.381.190.000 đ ng và ngày 07/6/2018 là 2.706.847.000 đ ng thực chất quá trình buôn bán v i nhau đã chốt lại lần cuối cùng theo giấy ượn tiền ngày 07/6/2017 v i số tiền 3.381.190.000 đ ng, sau hi chốt nợ cũng đã nhờ người chuyển trả được cho bà Thúy 300.000.000 đ ng, số tiền này hông ghi giấy tờ gì và trong quá trình chốt nợ thì hông có thỏa thuận về lãi suất nên vợ ch ng tôi hông đ ng trả lãi theo yêu cầu của bà Thúy.

Do đó, vợ ch ng ông ch đ ng trả cho bà Thúy số tiền 3.081.190.000

đ ng theo giấy ượn tiền ngày 07/6/2017.

Theo lời trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị

Kim Tuyến thì:

Bà là e ruột của ông Hoàng Thái Ân, do biết vợ ch ng bà Thu, ông Ân

có định chuyển nhượng nhà đất tại lô 184 Khu quy hoạch dân cư Phan Đình Phùng - Hai Bà Trưng nên bà đã đặt vấn đề ua lại căn nhà này của vợ ch ng ông Ân.

Ngày 01/9/2018, bà đã đặt cọc cho vợ ch ng ông Ân số tiền

1.800.000.000 đ ng và thỏa thuận trong 30 ngày sẽ hợp đ ng chính thức và giao đủ số tiền chuyển nhượng là 3.700.000.000 đ ng. Trên thực tế thì giữa bà và vợ ch ng ông Ân thỏa thuận chuyển nhượng v i giá 5.500.000.000 đ ng nhưng để giả nghĩa vụ thuế nên hi hợp đ ng ch ghi 1.000.000.000 đ ng.

Đến ngày 01/10/2018, bà và vợ ch ng ông Ân đã hợp đ ng chuyển

nhượng tại Văn ph ng công chứng Trương Anh và bà đã giao đủ số tiền 3.700.000.000 đ ng, đ ng thời bàn giao tài sản cho bà quản l .

Ngày 02/10/2018, bà đã nộp các giấy tờ để là thủ tục sang tên giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất tại bộ phận ột cửa Uỷ ban nhân dân thành phố Đà Lạt.

Đến ngày 19/10/2018, bà liên hệ nhận ết quả thì được biết tài sản đã bị

phong tỏa nên bà chưa được nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Về yêu cầu hởi iện của nguyên đơn bà hông có iến gì. Về việc nhận

chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà và vợ ch ng ông Ân là hoàn toàn tự nguyện và hợp pháp, hai bên đã hoàn tất việc ua bán bà đã giao đủ tiền và đã thực hiện đầy đủ các thủ tục theo quy định của pháp luật. Do đó, bà đề nghị T a án giải quyết vụ án nhanh chóng để hủy bỏ việc phong tỏa để bà tiếp tục thực hiện các thủ tục hành chính sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Tại phiên t a sơ thẩ , nguyên đơn thay đổi ột phần yêu cầu. Yêu cầu bị

đơn trả số tiền 5.788.037.000 đ ng, yêu cầu tiếp tục duy trì biện pháp hẩn cấp tạ thời số: 12/2018/QĐ-APKCTT ngày 08/10/2018 và yêu cầu hủy Quyết định số: 30/TA-GQKN ngày 29/10/2018.

Tại Bản án Dân sự sơ thẩ số 02/2019/DS-ST ngày 08/01/2019 của T a án

nhân dân thành phố Đà Lạt. Xử:

- Chấp nhận yêu cầu hởi iện của bà Vi Thị Thu Thúy iện vợ ch ng bà

Phan Thị Thu và ông Hoàng Thái Ân tranh chấp “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ”.

- Buộc vợ ch ng bà Phan Thị Thu và ông Hoàng Thái Ân có nghĩa vụ liên

đ i trả cho bà Vi Thị Thu Thúy số tiền 5.788.037.000đ (Năm tỷ bảy trăm tám mươi tám triệu không trăm ba mươi bảy ngàn đồng)

- Tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp hẩn cấp tạ thời số: 12/2018/QĐ-APKCTT ngày 08/10/2018 của T a án nhân dân thanh phố Đà Lạt để bảo đả nghĩa vụ thi hành án của bị đơn bà Phan Thị Thu và ông Hoàng Thái Ân đối v i nguyên đơn Vi Thị Thu Thúy trong vụ án này.

Ngoài ra, bản án c n tuyên về án phí và quyền háng cáo cho các bên

đương sự.

Ngày 21/01/2019, nguyên đơn bà Vi Thị Thu Thúy có đơn háng cáo ột

phần Bản án Dân sự sơ thẩ số: 02/2019/DS-ST ngày 08/01/2019 của T a án nhân dân thành phố Đà Lạt. Yêu cầu T a án cấp phúc thẩ chấp nhận háng cáo của bà là tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp hẩn cấp tạ thời số: 12/2018/QĐ-BPKCTT ngày 08/10/2018 của T a án nhân dân thành phố Đà Lạt. Vợ ch ng ông Ân, bà Thu phải có trách nhiệ ưu tiên thanh toán số tiền 5.788.037.000 đ ng bằng tài sản đả bảo nghĩa vụ là nhà và đất tại lô 184 Khu quy hoạch Phan Đình Phùng – Hai Bà Trưng, phường 2, thành phố Đà Lạt.

Ngày 22/01/2019, bị đơn vợ ch ng bà Phan Thị Thu, ông Hoàng Thái Ân

háng cáo toàn bộ Bản án Dân sự sơ thẩ số 02/2019/DS-ST ngày 08/01/2019 của T a án nhân dân thành phố Đà Lạt.

Ngày 22/01/2019, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị

Ki Tuyến háng cáo ột phần Bản án Dân sự sơ thẩ số 02/2019/DS-ST ngày 08/01/2019 của T a án nhân dân thành phố Đà Lạt. Yêu cầu T a án cấp phúc thẩ hủy bỏ Quyết định áp dụng biện pháp hẩn cấp tạ thời số 12/2018/QĐ-BPKCTT ngày 08/10/2018 của T a án nhân dân thành phố Đà Lạt.

Tại phiên tòa hôm nay: Nguyên đơn bà Vi Thị Thu Thúy vẫn giữ nguyên

háng cáo và hông chấp nhận háng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Bị đơn ông Hoàng Thái Ân vẫn giữ nguyên háng cáo và chấp nhận

háng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, hông chấp nhận háng cáo của nguyên đơn

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị Như Tuyến vẫn giữ

nguyên háng cáo và chấp nhận háng cáo của bị đơn, hông chấp nhận háng cáo của nguyên đơn.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị chấp nhận

toàn bộ háng cáo của bị đơn.

Đại diện Viện iể sát nhân dân t nh Lâ Đ ng nhận định: Việc chấp

hành pháp luật của Thẩ phán trong quá trình thụ l và của Hội đ ng xét xử tại phiên t a là đúng pháp luật. Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị Hội đ ng xét xử hông chấp nhận háng cáo của nguyên đơn bà Vi Thị Thu Thúy; hông chấp nhận háng cáo của bị đơn vợ ch ng bà Phan Thị Thu, ông Hoàng Thái Ân; hông chấp nhận háng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị Ki Tuyến, sửa Bản án Dân sự sơ thẩ số: 02/2019/DS-ST ngày 08/01/2019 của T a án nhân dân thành phố Đà Lạt.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Xuất phát từ việc nguyên đơn bà Vi Thị Thu Thúy cho rằng

giữa bà v i vợ ch ng bà Phan Thị Thu, ông Hoàng Thái Ân có ối quan hệ là ăn v i nhau về việc thu ua lợn, tính đến nay vợ ch ng bà Thu, ông Ân c n nợ bà tổng số tiền 5.788.037.000 đ ng nên bà yêu cầu vợ ch ng bà Thu, ông Ân có nghĩa vụ thanh toán cho bà số tiền trên.

Bị đơn vợ ch ng bà Thu, ông Ân thừa nhận có ối quan hệ là ăn thu ua

lợn như bà Thúy trình bày nhưng hiện nay vợ ch ng ông bà ch c n nợ bà Thúy số tiền 3.081.190.000 đ ng nên các bên có tranh chấp. Do đó, T a án cấp sơ thẩ xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là: “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ dân sự trả tiền” là đúng theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung: Xét háng cáo của nguyên đơn bà Vi Thị Thu Thúy; bị

đơn vợ ch ng bà Phan Thị Thu, ông Hoàng Thái Ân; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị Ki Tuyến thì thấy rằng:

[2.1] Căn cứ vào các lài liệu chứng cứ do các đương sự cung cấp như giấy

ượn tiền, các sổ theo dõi nợ thì nă 2015 giữa bà Thúy và vợ ch ng bà Thu, ông Ân có ối quan hệ ua bán, là ăn v i nhau về việc thu ua lợn là có trên thực tế và được các bên đương sự thừa nhận.

Trong quá trình ua bán, là ăn v i nhau thì ngày 23/3/2017 bà Thu có

xác nhận nợ tiền lợn bắt nă 2016 của bà Thúy v i số tiền là 3.381.190.000đ (BL 14 sổ nợ quyển 01), giấy xác nhận trên ch có ột ình bà Thu xác nhận nên ngày 07/6/2017 vợ ch ng bà Thu, ông Ân xác nhận lại số nợ trên bằng việc lập “Giấy ượn tiền” v i số tiền 3.381.190.000 đ ng, Giấy ượn tiền trên được bà Thu, ông Ân xác nhận (BL 82). Ngày 07/6/2017, vợ ch ng bà Thu, ông Ân xác nhận nợ bà Thúy thê số tiền 2.706.847.000 đ ng (BL 18 sổ nợ quyển 01).

[3] Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên t a hô

nay, bà Thúy cho rằng: Do giấy chốt nợ ngày 23/3/2017 v i số tiền 3.381.190.000 đ ng ch có ột ình bà Thu

xác nhận nên bà Thúy đã yêu cầu vợ ch ng ông Ân, bà Thu xác nhận lại số tiền này theo giấy ượn tiền ngày 07/6/2017; c n số tiền 2.706.847.000 đ ng ngày 07/6/2017 là chốt số tiền hàng c n thiếu sau ngày 23/3/2017; bà Thu và ông Ân

xác nợ số tiền 3.381.190.000 đ ng và 2.706.847.000 đ ng diễn ra trong cùng ngày 07/6/2017, số tiền nợ 3.381.190.000 đ ng chốt sổ ngày 23/3/2017 trùng h p v i v i số tiền xác nhận nợ 3.381.190.000 đ ng theo giấy xác nhận 07/6/2017 nên lời hai của bà Thúy là có cơ sở.

[3.1] Trong hi đó, vợ ch ng bà Thu, ông Ân cũng hông có chứng cứ

chứng inh các bên chốt nợ lần cuối cùng là ngày 7/6/2017 v i số tiền 3.381.190.000 đ ng. Đ ng thời, vợ ch ng ông Ân, bà Thu cũng hông l giải được số tiền nào cộng v i số tiền 2.706.847.000 đ ng thành số tiền 3.381.190.000 đ ng theo giấy nhận nợ ngày 07/6/2017. Hơn nữa, giấy ượn tiền ngày 07/6/2017 cũng hông thể hiện nội dung ngoài số tiền 3.381.190.000đ này ra thì vợ ch ng bà Thu, ông Ân không c n nợ bà Thúy số tiền nào hác.

Mặt hác, nếu có việc các bên chốt nợ bằng giấy giấy ượn tiền ngày

07/6/2017 v i số tiền 3.381.190.000 đ ng thì giấy nhận nợ số tiền 2.706.847.000 đ ng ngày 07/6/2017 phải được hủy bỏ hoặc được vợ ch ng bà Thu, ông Ân thu h i nhưng trong trường hợp này giấy nợ trên vẫn được bà Thúy cất giữ làm căn cứ hởi iện. Do đó, lời trình bày của vợ ch ng bà Thu, ông Ân là hông có cơ sở chấp nhận.

[4] Sau hi chốt nợ vợ ch ng bà Thu, ông Ân đã thanh toán cho bà Thúy

được số tiền 300.000.000 đ ng, ặc dù vợ ch ng bà Thu, ông Ân hông có chứng cứ chứng inh đã thanh toán số tiền này nhưng bà Thúy cũng đã thừa nhận và đ ng cấn trừ vào tổng số tiền nợ 6.088.037.000 đ ng và yêu cầu vợ ch ng bà Thúy, ông Ân tiếp tục thanh toán số tiền c n lại là 5.788.037.000đ (6.088.037.000 đ ng – 300.000.000 đ ng ) và được T a án cấp sơ thẩ chấp nhận là có căn cứ.

Tại phiên t a hô nay, bà Thúy và ông Ân đều thừa nhận sau ngày chốt

nợ 07/6/2017 thì hai bên vẫn tiếp tục là ăn v i nhau và vợ ch ng bà Thu, ông Ân vẫn bắt lợn của bà Thúy. Bà Thúy chốt nợ đến ngày 31/10/2017 vợ ch ng ông Ân, bà Thu c n nợ số tiền 526.996.000 đ ng nhưng bà Thúy cho rằng đây là hoản nợ phát sinh sau ngày 07/6/2017 nhưng vợ ch ng bà Thu, ông Ân hông

xác nhận nên bà chưa có căn cứ hởi iện hoản tiền này, nên việc luật sư Nghĩa là người bảo vệ quyền lợi cho bị đơn trình bày số tiền bị đơn c n nợ nguyên đơn ch là 526.996.000 đ ng là âu thuẫn v i số tiền theo iến thừa nhận của bị đơn là 3.081.190.000đ ng.

[5] Về Quyết định áp dụng hẩn cấp tạ thời số: 12/2018 /QĐ-APKCTT ngày 08/10/2018 của T a án nhân dân thành phố Đà Lạt thì thấy rằng:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 139 của Bộ luật Tố tụng dân sự nă 2015

thì: “Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời có hiệu lực thi hành ngay”.

Theo quy định tại Điều 140 của Bộ luật Tố tụng dân sự nă 2015 thì:

“Đương sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án về quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc việc Thẩm phán không quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời. Thời hạn khiếu nại, kiến nghị là 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc trả lời của Thẩm phán về việc không ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời”.

[6] V i quy định trên thì Quyết định áp dụng Biện pháp hẩn cấp tạ thời

hông phải là đối tượng của việc háng cáo, háng nghị à các đương sự ch có quyền hiếu nại, Viện iể sát có quyền iến nghị v i Chánh án T a án đang giải quyết về việc quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp hẩn cấp tạ thời hoặc việc thẩ phán hông quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp hẩn cấp tạ thời.

Trong quá trình giải quyết vụ án tại T a án cấp sơ thẩ , các đương sự đã

thực hiện việc hiếu nại quyết định áp dụng biện pháp hẩn cấp tạ thời số: 12/2018/QĐ-APKCTT ngày 08/10/2018 của T a án nhân dân thành phố Đà Lạt theo quy định của pháp luật và đã được Chánh án T a án nhân dân thành phố Đà Lạt giải quyết tại Quyết định giải quyết hiếu nại số: 30/TA-GQKN ngày 29/10/2018.

[7] Theo quy định tại hoản 2 Điều 141 của Bộ luật Tố tụng dân sự nă

2015 thì: “Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị của Chánh án là quyết định cuối cùng và phải được cấp hoặc gửi ngay theo quy định tại Khoản 2 Điều 139 của Bộ luật này”.

Như vậy, v i quy định trên thì bị đơn vợ ch ng bà Phan Thị Thu, ông

Hoàng Thái Ân; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị Ki Tuyến hông được quyền háng cáo à ch được quyền hiếu nại Quyết định áp dụng biện pháp hẩn cấp tạ thời số: 12/2018/QĐ-APKCTT ngày 08/10/2018 của T a án nhân dân thành phố Đà Lạt, và việc hiếu nại quyết định áp dụng biện pháp hẩn cấp tạ thời trên đã được Chánh án T a án nhân dân thành phố Đà Lạt giải quyết theo thẩ quyền, nên háng cáo yêu cầu hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp hẩn cấp tạ thời của vợ ch ng bà Thu, ông Ân và bà Tuyến là hông đúng pháp luật nên hông có căn cứ xe xét và Bản án sơ thẩ tuyên tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng Biện pháp hẩn cấp tạ thời cũng là hông đúng nên T a án cấp phúc thẩ cần sửa lại phần này là có căn cứ.

[8] Đối v i việc bà Thúy háng cáo yêu cầu được ưu tiên thanh toán bằng

tài sản đả bảo nghĩa vụ là nhà đất tại lô 184 hu quy hoạch Phan Đình Phùng – Hai Bà Trưng, Phường 2, thành phố Đà Lạt thì sẽ được xe xét giải quyết tại giai đoạn thi hành án theo quy định tại Điều 47 Luật thi hành án dân sự.

[9] Đối v i quan hệ ua bán nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất

giữa vợ ch ng bà Thu, ông Ân v i bà Tuyến do hông có tranh chấp nên cần xác định đây là việc dân sự. Do đó, bà Tuyến có quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự theo quy định tại Điều 27 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và có quyền yêu cầu xe xét tính hợp pháp của Quyết định áp dụng hẩn cấp tạ thời số: 12/2018/QĐ-APKCTT ngày 08/10/2018 của T a án nhân dân thành phố Đà Lạt theo quy định của pháp luật.

V i phân tích trên, T a án cấp phúc thẩ cần bác toàn bộ háng cáo của

nguyên đơn bà Vi Thị Thu Thúy; bị đơn vợ ch ng bà Phan Thị Thu, ông Hoàng Thái Ân; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị Như Tuyến để sửa bản án sơ thẩ theo hư ng nhận định trên là có căn cứ.

[10] Về án phí: Do háng cáo của các đương sự hông được chấp nhận

nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩ theo quy định. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩ theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

Q YẾT Đ NH

- Căn cứ vào Khoản 2 Điều 308 - Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số:

326/2014/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về ức thu, iễn, giả , thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án.

Không chấp nhận háng cáo của nguyên đơn bà Vi Thị Thu Thúy; hông

chấp nhận háng cáo của bị đơn vợ ch ng bà Phan Thị Thu, ông Hoàng Thái Ân; hông chấp nhận háng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị Như Tuyến, sửa bản án sơ thẩ . Xử

1- Chấp nhận yêu cầu hởi iện của bà Vi Thị Thu Thúy đối v i vợ ch ng

bà Phan Thị Thu và ông Hoàng Thái Ân tranh chấp “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ dân sự trả tiền”.

- Buộc vợ ch ng bà Phan Thị Thu và ông Hoàng Thái Ân có nghĩa vụ liên

đ i trả cho bà Vi Thị Thu Thúy số tiền 5.788.037.000 đ ng (Năm tỷ bảy trăm tám mươi tám triệu không trăm ba mươi bảy ngàn đồng).

- Lãi suất chậ thi hành án: Kể từ ngày người được thi hành án có đơn

yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án c n phải trả số tiền lãi, tương ứng v i thời gian và số tiền chậ trả, theo ức lãi suất quy định tại hoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự.

2- Về án phí sơ thẩ :

- Buộc vợ ch ng bà Phan Thị Thu và ông Hoàng Thái Ân phải chịu số tiền

113.788.037 đ ng án phí dân sự sơ thẩ .

- Hoàn trả cho bà Vi Thị Thu Thúy số tiền 57.044.000 đ ng án phí dân sự

sơ thẩ đã nộp theo biên lai thu số 0008577 ngày 12/10/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt.

3- Về án phí phúc thẩ :

- Buộc bà Vi Thị Thu Thúy phải chịu 300.000đ ng nhưng được trừ vào số

tiền 300.000 đ ng tạ ứng án phí dân sự phúc thẩ đã nộp theo biên lai thu số 0011819 ngày 21/01/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt.

- Buộc ông Hoàng Thái Ân, bà Phan Thị Thu phải chịu 300.000đ ng nhưng

được trừ vào số tiền 300.000 đ ng tạ ứng án phí dân sự phúc thẩ đã nộp theo biên lai thu số 0011842 ngày 01/02/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt.

- Buộc bà Hoàng Thị Ki Tuyến phải chịu 300.000đ ng nhưng được trừ

vào số tiền 300.000 đ ng tạ ứng án phí dân sự phúc thẩ đã nộp theo biên lai thu số 0011839 ngày 24/01/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 -

Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự”.

Bản án phúc thẩ có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

- VKSND t nh Lâ Đ ng;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND Tp. Đà Lạt;

- CCTHADS Tp. Đà Lạt;

- Ph ng KTNV&THA;

(Đã )

- Các đương sự; -Lưu AV – HS.

Bùi Hữu Nhân THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Châu Thạch - Nguyễn Văn Thanh

Bùi Hữu Nhân THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Châu Thạch - Nguyễn Văn Thanh

Bùi Hữu Nhân

Cỡ chữ