- Tranh chấp gì? án hình sự — "Thiều Ngọc Đức - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Thiều Ngọc Đ phạm tội: Trộm cắp tài sản
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 109/2019/HS-ST Ngày 16/10/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hoàng Thị Bích Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bạn, ông Quàng Văn Hặc.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Hà Mai Chi, Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Trần Diệu Linh, Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 114/2019/TLST-HS ngày 13/9/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2019/QĐXXST- HS ngày 01/10/2019 đối với bị cáo:
Thiều Ngọc Đ. Tên gọi khác: Không; sinh ngày 21 tháng 6 năm 1993 tại Hà Nam. Nơi cư trú: Tổ 03, phường H, thành phố S, tỉnh Sơn La.Trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Không; dân tộc: Kinh; giớ i tinh: Nam; quốc tịch: Việt
́ Nam; tôn giáo: Không; đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Thiều Mạnh T và bà Mai Thị H; bị cáo chưa có vợ, con.tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 07/02/2018 bị TAND thành phố Sơn La xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Bị cáo hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Người bị hại:
1. Chị Trần Thị Tài Đ. Sinh năm: 2003. Trú tại: Ấp mỹ ch, xã Hiệp H, huyện Phụng H, tỉnh G. Người đại diện hợp pháp cho người bị hại: Ông Trần Văn M. Tạm trú tại : Tổ 3, phường Quyết Thắng, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. (có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa)
2. Anh Trần Văn M.Trú tại: Ấp mỹ ch, xã Hiệp H, huyện Phụng H, tỉnh G. Tạm trú: Tổ 3, phường Quyết Thắng, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. (có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 00 ngày 12/7/2019, Thiều Ngọc Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA Dream màu nâu BKS 26F1-5768 đi từ nhà tại tổ 03, phường Tô Hiệu, thành phố Sơn La đến khách sạn Hoa Anh Đào thuộc tổ 03, phường Q, thành phố Sơn La để xông hơi, mát-xa.Đ mua vé tại quầy lễ tân trên tầng 7 của khách sạn rồi đi lên khu dịch vụ xông hơi, mát-xa trên tầng 8 (Khu dịch vụ xông hơi, mát-xa thuộc quản lý của anh Trần Văn M, sinh năm 1973, tạm trú tại tổ 03
- phường Q - thành phố Sơn La). Đến khoảng 08 giờ 40 phút cùng ngày, sau khi xông hơi, mát-xa xong, nhân viên khách sạn là Nguyễn Thị C, sinh năm 1984, trú tại xã T - huyện C, tỉnh Hậu Giang đòiĐ trả thêm tiền,Đ không đồng ý và đi xuống tầng 7 tìm người quản lý hỏi việc nhân viên đòi trả thêm tiền, nhưng không gặp ai. Đ đi dọc hành lang tầng 7 thì thấy một phòng mở cửa, ngoài cánh cửa dán chữ “Không phận sự miễn vào". Đ đi vào trong, phát hiện trên giường kê sát cửa ra vào có 01 chiếc điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu trắng có ốp lưng màu hồng (là tài sản của chị Trần Thị Tài Đ, trú tại xã Hiệp H - huyện Phụng H - tỉnh Hậu G, là con gái anh Trần Văn M lên Sơn La chơi), quan sát trong phòng không có người, Đ nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại trên. Đ tiến lại gần giường, cầm chiếc điện thoại trên cho vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi ra quầy lễ tân. Thấy bên cạnh quầy lễ tân có 01 bàn thờ thần tài, trên bàn thờ có 01 tờ 10.000đ, 01 tờ 20.000đ, Đ lấy toàn bộ số tiền trên cho vào ví rồi cất vào túi quần bên trái đang mặc sau đó đi xuống tầng 01 điều khiển xe mô tô về nhà.
Ngày 12/7/2019, khi phát hiện bị mất chiếc điện thoại, chị Trần Thị Tài Đ có đơn trình báo tại Công an phường Q - Công an thành phố Sơn La về việc mất tài sản.
Cùng ngày, Thiều Ngọc Đ bị triệu tập đến Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La làm việc. Tại đây,Đ khai nhận hành vi phạm tội và giao nộp vật chứng gồm: 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, mặt trước màu đen, mặt sau màu trắng bạc có chữ Iphone, ốp vỏ lưng màu hồng. Số tiền 30.000đ gồm 01 tờ tiền 10.000đ, 01 tờ tiền 20.000đ.
Ngày 13/7/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La ra Yêu cầu số 1961/YCĐG, Trưng cầu định giá đối với tài sản Thiều Ngọc Đ đã chiếm đoạt.
Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 30/KL-HĐ ĐGTS ngày 13/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Sơn La, kết luận:
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng, bản chính hãng, dung lượng 64GB, đã qua sử dụng, giá trị còn lại: 14.000.000đ.
- 01 ốp lưng điện thoại màu hồng đã qua sử dụng, giá trị còn lại 15.000đ.
Tổng giá trị tài sản: 14.015.000đ (Mười bốn triệu không trăm mười lăm nghìn đồng).
Ngày 15/7/2019, chị Trần Thị Tài Đ có đơn xin lại tài sản.
Ngày 15/7/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La ra Quyết định xử lý vật chứng sổ 1978/XLVC, trả lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng bản chính hãng dung lượng 64GB + 01 ốp lưng điện thoại màu hồng cho chủ sở hữu hợp pháp.
Ngày 18/8/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La ra Quyết định xử lý vật chứng số 2254/XLVC, trả lại số tiền 30.000đ cho anh Trần Văn M, sinh năm 1973, tạm trú tại tổ 03, phường Q, thành phố Sơn La là chủ sở hữu hợp pháp.
Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Dream BKS 26F1-5768, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Thiều Mạnh T, sinh năm 1966, trú tại tổ 03, phường T, thành phố Sơn La (Bố đẻ của Thiều Ngọc Đ). Ngày 31/7/2019, ông T có đơn xin lại tài sản. Ngày 17/8/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La ra Quyết định xử lý vật chứng là 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Dream màu nâu BKS 26F1-5768 bằng hình thức trả lại chủ sở hữu hợp pháp quản lý và sử dụng. Anh Thắng đã nhận lại tài sản và không có ý kiến khiếu nại gì khác.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Thị Tài Đ và Trần Văn M không yêu cầu bị caó bồi thường và có đơn đề nghị xin giảm hình phạt cho bị cáo.
Tại cáo trạng số 121/CT-VKSTP ngày 13/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy tố Thiều Ngọc Đ về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quan điểm truy tố và đề nghị:
Tuyên bố bị cáo Thiều Ngọc Đ phạm tội Trộm cắp tài sản.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Thiều Ngọc Đ từ 06 đến 09 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo. Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan điều tra, nhất trí với cáo trạng truy tố, thành khẩn khai báo, và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒ A Á N:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về quá trình tiến hành tố tụng:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi và trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, người bị hại, người làm chứng và vật chứng bị thu giữ, kết luận giám định cùng các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy: Ngày 12/7/2019 Thiều Ngọc Đ đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng trị giá 14.015.000đ của chị Trần Thị Tài Đ và 30.000đ của anh Trần Văn M. Tổng trị giá tài sản mà Đ chiếm đoạt là 14.045.000đ.
Xét hành vi của bị cáo Thiều Ngọc Đ là cố ý, lén lút lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của người bị hại để chiếm đoạt tài sản, tội phạm đã hoàn thành. Hành vi của bị cáo cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy tố Thiều Ngọc Đ về tội danh trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền tài sản của công dân, được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo đã có tiền án chưa được xóa án lại phạm tội mới, thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình, tài sản đã được trả lại ngay cho người bị hại, nên được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặt khác, trước khi mở phiên tòa, bị hại và người đại diện hợp pháp của người bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên cần áp dụng khoản 2 Điều 51 bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[3] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Xét bị cáo không có tài sản và thu nhập không ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4]Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại là anh Trần Văn M và chị Trần Thị Tài Đ đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Tòa án không xét.
5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Thiều Ngọc Đ phạm tội: Trộm cắp tài sản
Xử phạt bị cáo Thiều Ngọc Đ: 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại thụ hình.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Thiều Ngọc Đ.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Thiều Ngọc Đ phải chi ̣u án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người bị hại, đại diện hợp pháp của người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - VKSND thành phố Sơn La; - Công an thành phố Sơn La; - Chi cục THADS thành phố Sơn La; - Trại giam; - THAHS; - Bị cáo; - Người bị hại - Lưu: Hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Bích Hồng |