vanban.org

Bản án 109/2019/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 12/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức A phạm “Tội trộm cắp tài sản”.

Về điều luật áp dụng và phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; phạt bị cáo Nguyễn Đức A 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11-3-2019. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/20… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức A phạm “Tội trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức A phạm “Tội trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN B
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 109/2019/HS-ST
Ngày 12-6-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B, THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Ái

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng Bạch và Phạm Vũ Diễm Linh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân quận B, Thành phố H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B, Thành phố H tham gia phiên tòa: Ông Mã Văn Thuân - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2019, tại Tòa án nhân dân quận B, Thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 121/2019/TL ST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2019; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2019/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức A, sinh năm 1984, tại tỉnh TV. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp N, xã T, huyện TC, tỉnh TV; nơi ở: Không ổn định; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn R và bà Trần Thị N; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 23/10/2000, bị Tòa án nhân dân tỉnh TV xử phạt 03 năm tù về “Tội cướp tài sản” (chấp hành xong hình phạt chính ngày 02/9/2002, quyết định khác ngày 27/4/2001 và khi phạm tội đã đủ 14 tuổi nhưng dưới 16 tuổi nên không được coi là có án tích); bị bắt tạm giữ ngày 11-3-2019 (tính tại thời điểm tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang do Công an phường B1 lập biên bản lúc 20 giờ 10 phút ngày 11/3/2019), tạm giam ngày 18-3-2019 “có mặt”.

Bị hại: Chị Đào Thị H, sinh năm 1987. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 9, ấp H, xã HB, huyện C, tỉnh AG “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ ngày 11/3/2019, Nguyễn Đức A phát hiện chị Đào Thị H đang đi bộ trong khuôn viên Bệnh viện quận B, số 809, đường HL2, phường B1, quận B và lúc đó trên tay của chị H có cầm máy tính bảng hiệu Samsung màu trắng nên Anh nảy sinh ý định chiếm đoạt. Lúc này, Anh đi theo chị H đến Phòng bệnh số 5 - Khoa nhi - Bệnh viện quận B thì chị H đi vào phòng, còn Anh ngồi bên ngoài quan sát chờ có cơ hội thuận lợi để lẻn vào lấy. Đến 19 giờ 45 phút cùng ngày, khi chị H đi ra hành lang lấy nước, Anh vào trong lấy của chị H được 01 máy tính bảng hiệu Samsung màu trắng và 01 cái bóp cái sọc ca rô, bên trong có 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus 32Gb và số tiền 1.000.000 đồng để tại đầu giường số 17 rồi vừa bước ra thì bị chị H phát hiện tri hô lên thì được người dân xung quanh nghe, thấy hỗ trợ chạy đuổi theo bắt giữ Anh cùng vật chứng giao cho Công an phường B1 giải quyết người có hành vi phạm tội quả tang.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Đức A đã khai nhận, do cần có tiền tiêu xài nên khi nhìn thấy chị Đào Thị H cầm chiếc máy tính bảng hiệu Samsung màu trắng thì bị cáo liền có ý chiếm đoạt. Để thực hiện được ý định này, bị cáo đi theo sau chị H đến Phòng bệnh số 5 - Khoa nhi - Bệnh viện quận B, bị cáo tiếp tục ngồi bên ngoài quan sát chờ cơ hội. Đến khi thấy chị H đi ra hành lang lấy nước, bị cáo lập tức lẻn vào giường bệnh lấy của chị H 01 máy tính bảng hiệu Samsung màu trắng và 01 cái bóp cái sọc ca rô, bên trong có 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus 32Gb và số tiền 1.000.000 đồng rồi tẩu thoát thì bị chị H phát hiện bắt giữ nên nay bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo thống nhất về tài sản đã chiếm đoạt có tổng giá trị là 8.575.000 đồng và không có ý kiến gì về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng.

Bản cáo trạng số 124/CT-VKS ngày 16 tháng 5 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận B, Thành phố H đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức A ra trước Tòa án nhân dân quận B, Thành phố H để xét xử về “Tội trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Nguyễn Đức A đã có hành vi lén lút chiếm đoạt trái phép tài sản của chị Đào Thị H, tội phạm đã hoàn thành và tài sản có tổng giá trị là 8.575.000 đồng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội lại có nhân thân xấu nên cần phải xử lý bị cáo bằng một mức án thật nghiêm. Tuy nhiên, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại nên gây thiệt hại không lớn. Do đó, giữ nguyên Quyết định đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo với mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản”. Về dân sự, do bị hại đã được nhận lại đủ số tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì thêm, còn về vật chứng đã giải quyết xong nên không ý kiến.

Bị cáo không tranh luận và bào chữa gì về hành vi đã bị truy tố, còn lời nói sau cùng thì xin giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra – Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét vào khoảng 19 giờ 45 phút ngày 11/3/2019, bị cáo Nguyễn Đức A đã có hành vi lén lút chiếm đoạt trái phép tài sản là 01 máy tính bảng hiệu Samsung màu trắng và 01 cái bóp cái sọc ca rô, bên trong có 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus 32Gb và số tiền 1.000.000 đồng của chị Đào Thị H để tại đầu giường số 17 - Phòng bệnh số 5 - Khoa nhi - Bệnh viện quận B, số 809, đường HL2, phường B1, quận B. Theo Kết luận của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thì 03 loại tài sản này có giá trị là 7.575.000 đồng (tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 8.575.000 đồng). Do đó, bị cáo Nguyễn Đức A đã phạm “Tội trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại Tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị hại, những người làm chứng, biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được cùng kết quả định giá tài sản… nên đã đủ chứng cứ buộc tội bị cáo và lời đề nghị của Kiểm sát viên vừa nêu trên là có cơ sở chấp nhận.

Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của người khác, thực hiện hành vi chiếm đoạt trái phép tài sản là trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo tuy ít nghiêm trọng nhưng đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu tiêu xài cá nhân, lại có nhân thân xấu là đã từng bị kết án 03 năm tù về “Tội cướp tài sản” nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án này với mức án tương xứng. Tuy nhiên tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại nên gây thiệt hại không lớn. Do đó, cần được xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”; do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo làm nghề tự do và không có điều kiện kinh tế nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tuy tại Tòa hôm nay, bị hại chị Đào Thị H đã được triệu tập hợp lệ mà vẫn vắng mặt nhưng theo các tài liệu có trong hồ sơ thì, chị H đã được nhận lại đủ số tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì thêm nên không xét.

Về vật chứng: 01 máy tính bảng hiệu Samsung màu trắng và 01 cái bóp cái sọc ca rô, bên trong có 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus 32Gb và số tiền 1.000.000 đồng của chị Đào Thị H, Công an phường B1, quận B đã thu hồi và giao trả lại cho chị H nên không xét.

Bị cáo Nguyễn Đức A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức A phạm “Tội trộm cắp tài sản”.

- Về điều luật áp dụng và phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; phạt bị cáo Nguyễn Đức A 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11-3-2019.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Nguyễn Đức A phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo:. Bị cáo Nguyễn Đức A có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại chị Đào Thị H vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật

Cỡ chữ